Chuyện về " Vua vọng cổ" đất Phương Nam

10/07/2014 - 00:00

Nghệ sĩ Út Trà Ôn tên thật là Nguyễn Thành Út, sinh năm 1919, tại xã Đôn Châu, quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ cũ (nay là Vĩnh Long). Thuở nhỏ cậu Mười Út rất mê đàn hát, thường tụ tập bạn bè trong những nhóm đờn ca tài tử. Vốn có giọng ca thiên phú, biết nghĩ ra cách tự luyện cho mình một lối ca riêng, từ cách nhả chữ, nhấn nhịp, nên trong các dịp cúng đình ông thường được mời làm học trò lễ. Khi vào nghề hát ông lấy nghệ danh Út Trà Ôn để tưởng nhớ ơn nghĩa sanh thành của cha mẹ và mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Vì là con út, thứ mười nên các nghệ sĩ thường gọi ông là anh Mười Út hoặc cậu Mười Út.
Năm 1942, ông từ giã quê nhà lên Sài Gòn lập nghiệp. Nhờ quá giang ghe lá, nên đến bờ sông Vàm Cỏ, thấy ghe hát của Đoàn cải lương Tiến Hóa căng bảng hiệu cần tuyển kép trẻ, ông liền xin thử giọng, hát thử một câu vọng cổ thì được ông bầu thâu nhận ngay. Tại Sài Gòn Út Trà Ôn dự cuộc thi ca cổ nhạc của hãng rượu Bình Tây và đoạt giải nhất. Đài Pháp Á mời Út Trà Ôn ca vọng cổ và các bài bản cải lương trên Đài Pháp Á. Nghệ sĩ Út Trà Ôn nổi danh qua các bản vọng cổ Thức Suốt Đêm Đông, Sầu Bạn Chung Tình, Tôn Tẫn Giả Điên. Các đoàn hát nghe danh ca Út Trà Ôn, họ đua nhau mời Út Trà Ôn về cộng tác với gánh hát của họ.
Một trong những bài đã làm nên tên tuổi của ông là bài “Tôn Tẫn giả điên”. Đây là bài do một nhà sư viết tặng ông khi ông vẫn còn là một anh nông dân có khiếu ca nhạc tài tử ở miệt đồng Trà Ôn, Vĩnh Long.
Cũng trong năm 1942, ông Bầu Trương Văn Thông, chủ gánh hát Tân Thinh mời Út Trà Ôn làm kép chánh, hát các tuồng như Bàng Quyên – Tôn Tẩn, Tôn Tẩn đại chiến Hải Triều, Tôn Tẩn phá Bình Linh Hội. Nhờ lối ca chân phương, chắc nhịp, giọng trầm ấm và khỏe khoắn, Út Trà Ôn được khán giả bốn phương ái mộ.
Năm 1943, ông Bầu Hề Lập mời nghệ sĩ Út Trà Ôn cộng tác trong tuồng Lý Chơn Tâm Cởi Củi. Đây là thời điểm mà những nghệ sĩ ca hay, có sắc vóc được nhận tiền thưởng khi mới về đoàn hát. Sau này tiền thưởng được gọi là tiền contrat, có những điều kiện ràng buộc giữa bầu gánh hát và nghệ sĩ.
Từ năm 1943 đến năm 1954, Út Trà Ôn đã hát qua những gánh hát như Hề Lập, gánh hát Thanh Long của bầu Tư Lung, gánh hát Tiến Hóa của bầu Trúc Viên Trương Gia Kỳ Sanh, gánh hát Mộng Vân của bầu gánh kiêm soạn giả Mộng Vân. Chính Mộng Vân đã viết tuồng “Thái Tử lưng gù” cho Út Trà Ôn diễn (khi thu dĩa đổi tựa là: Một người anh). Và năm 1954, Út Trà Ôn đi gánh hát Thanh Minh của bầu Nghĩa, chồng bà bầu Thơ, thân mẫu của nữ nghệ sĩ Thanh Nga.
Trước năm 1954, vì đang có chiến tranh, đoàn hát không có nhiều điểm diễn có an ninh nên thu nhập của đoàn hát cũng bị hạn chế. Nghệ sĩ danh ca Út Trà Ôn được ký hợp đồng với bầu Mộng Vân một số tiền 50.000 đồng trong hai năm. Đây là số tiền hợp đồng cao nhất mà nghệ sĩ nhận được trong thời điểm đó.
Sau 1954, ở Sài Gòn và các tỉnh xây cất thêm nhiều rạp hát lớn, khang trang, rộng rãi, nhiều ghế cho khán giả nên các đoàn hát cải lương hát đông khách. Nhiều đoàn hát mới thành lập khiến cho có cảnh tranh giành bắt nghệ sĩ về cho đoàn hát của mình. Nghệ sĩ Út Trà Ôn ký hợp đồng hát cho gánh hát Thanh Minh Bầu Nghĩa với số tiền hợp đồng là 350.000 đồng trong hai năm, lương 700 đồng một suất hát.
Đầu năm 1956, ông rời đoàn hát Thanh Minh để cùng các nghệ sĩ Kim Chưởng, Thúy Nga, Thanh Tao lập ra gánh hát Kim Thanh – Út Trà Ôn, nghệ sĩ Út Trà Ôn phải bồi thường cho ông bầu Nghĩa 700.000 đồng tiền hợp đồng.
Năm 1958, đoàn hát Kim Thanh giải tán, nghệ sĩ Út Trà Ôn trở về cộng tác với đoàn hát Thanh Minh với số tiền hợp đồng là một triệu rưỡi trong hai năm, lương mỗi suất hát là 1.500 đồng. Ngày chủ nhật hay ngày lễ, nếu đoàn hát hát hai suất, nghệ sĩ Út Trà Ôn được lãnh 3.000 đồng (1 lượng vàng thời đó). Thời đó một lượng vàng giá từ 2.800 đồng đến khoản 3.000 đồng.
Năm 1955, báo chí kịch trường trưng cầu ý kiến khán giả, độc giả, nghệ sĩ Út Trà Ôn được tặng danh hiệu Đệ Nhất Nam Danh Ca, ký giả Nguyễn Ang Ca gọi là Vua vọng cổ Út Trà Ôn. Mỹ hiệu Vua Vọng Cổ Út Trà Ôn được người trong giới nghệ sĩ, báo chí và khán giả dùng để gọi Út Trà Ôn thay cho danh đệ nhất nam danh ca Út Trà Ôn.
Nghệ sĩ Út Trà Ôn cũng là người khởi đầu làm cho tiền ký hợp đồng của nghệ sĩ với bầu gánh hát tăng rất cao. Hợp đồng của Út Trà Ôn ký với bầu gánh hát Thanh Minh là một triệu năm trăm ngàn đồng trong thập niên 50, số lượng một suất hát là 1.500 đồng. So với số lương của các giám đốc, chủ sự, cò mi, thư ký của Chính phủ thì đó là một số tiền thù lao nhận được là rất cao.
Là một danh ca nổi tiếng đào hoa nhưng Út Trà Ôn là người chồng thủy chung, chỉ một vợ, một chồng và một dòng con. Ông có 6 người con, 3 trai, 3 gái. Ca sĩ Bích Phượng là con út, là người nối được nghiệp của ông. Có điều đặc biệt ở Út Trà Ôn là ông rất mê chơi bi-da, biệt danh “Cậu Mười bi-da” cũng nổi tiếng không kém nghệ danh Út Trà Ôn.


Sau 1975 Út Trà Ôn tiếp tục ca diễn, đóng góp cho sân khấu cải lương ở các đoàn Sài Gòn 1, Trần Hữu Trang và các nhóm nghệ sĩ khác nhưng có phần hạn chế do tình hình chung của xã hội lúc bấy giờ nên phần lớn các bài hát và vai diễn nổi tiếng được mọi người biết đến như: Gánh Nước Đêm Trăng, Ông Lão Chèo Đò,Tình Anh Bán Chiếu, Gánh Chè Khuya, Tuyệt Tình Ca, Tiếng hát Muồng Tênh….
Tháng 3-1997, Út Trà Ôn vinh dự được phong tặng Nghệ sĩ Nhân dân cùng những nghệ sĩ có đóng góp lớn cho nền nghệ thuật Việt Nam. Ông từ trần lúc 19 giờ 30 phút ngày 13/8 tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (TP.HCM), hưởng thọ 83 tuổi, an táng tại Chùa Nghệ Sĩ, quận Gò Vấp.
Ca sĩ Bích Phượng- con gái cố NSND Út Trà Ôn kể: Ba má mình yêu nhau ngộ lắm. Hồi đó tuy đã nổi tiếng nhưng nghệ sĩ Út Trà Ôn vẫn thích ăn cơm bình dân. Trong con hẻm nhỏ mỗi lần ông ghé đến, con nít bu quanh. Cả khu xóm thắc mắc vì sao ông nghệ sĩ khoái đến tiệm cơm này. Đến khi tiệm chuyển thành nơi nấu cơm tháng cho sinh viên, học sinh, công nhân Sài Gòn, ông cũng đăng ký mỗi trưa một suất. Sau này, người ta hiểu, thì ra cô cháu gái của bà chủ quán chính là nguyên nhân khiến đệ nhất danh ca thích ăn cơm tiệm. Ba chị yêu má vì nét đẹp chân quê. Má chị Phượng kể: “Hồi đó nghe đĩa nhựa bài Tôn Tẫn giả điên, tao nghĩ trong bụng cái ông Út Trà Ôn này chắc già khú đế. Ai dè trẻ đẹp và có duyên ăn nói…”. Phượng nói, ba chị sống lãng mạn, thích hoài niệm những chuyện cũ. Có giai đoạn nghề hát hẩm hiu, bao nhiêu tiền của ông đổ vào gánh hát, sự nghiệp suýt tiêu tan, má chị phải một thân tần tảo nuôi chồng con. Nhiều đêm nghệ sĩ Trà Ôn trằn trọc không ngủ, khiến người vợ khóc suốt đêm. Nhưng ba chị khảng khái: “Công chúng còn thương tôi, thì sợ chi nghèo đói. Trách nhiệm của bà là nuôi dạy đàn con khôn ngoan, chăm học, đừng để người ta khinh con nghệ sĩ dốt lễ nghĩa”.


NGUYỄN PHƯƠNG


 

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN