Có một dòng sông buồn nhất trần gian!

11/11/2014 - 10:53

Làng K130
Làng K130 chính là xóm Trại và xóm Ổ Ga, ngôi làng giống như cây thập tự bởi con đường 1A cắt ngang. Phía nam khoảng 200m là cầu Cổ Ngựa, tiếp theo chừng 300m là cầu Già. Xa hơn một chút về phía Bắc là huyện lỵ huyện Can Lộc. Làng K130 là biệt danh có từ những ngôi nhà. 130 ngôi nhà ấy bây giờ duy nhất chỉ còn một đoạn cột cháy sém nằm tại Bảo tàng Lịch sử quân khu IV. Còn sự hy sinh với tấm lòng cao cả của những người dân xóm Ổ Ga thì vẫn còn lưu truyền nguyên vẹn mãi đến tận bây giờ.
Đó là đêm 13/8/1968, đoàn xe chở xăng dầu ra mặt trận bị mắc kẹt giữa đoạn đường độc đạo. Phía trước mặt, bom Mỹ đã hốt đoạn đường ở eo Cổ Ngựa vứt ra cánh đồng. Phía sau lưng cầu Nghèn bị sập, đường chiến lược rẽ về ngã ba Đồng Lộc bị chia cắt. Nếu điều toàn bộ lực lượng chủ lực của huyện với dân quân du kích địa phương san lấp đoạn đường này thì ít nhất cũng phải mất năm ngày. Đoàn xe mắc kẹt giữa vành đai lửa, không thể tiến không thể lui. Xăng dầu là máu nuôi sống những đoàn xe vận tải, nhưng ngược lại đó là những núi lửa kinh hoàng nhất nếu bom Mỹ châm ngòi. Tiếng máy bay rít qua vòm trời như thổi bùng ngọn lửa cháy ngầm trong tâm can mọi người. Chẳng ai nghĩ đến tính mạng của mình, chỉ lo cháy hàng, cháy xe. Trong tình cảnh nóng bỏng như ngồi trên chảo lửa thì làng Cót nhận được lệnh hoả tốc từ huyện chuyển về: Phá làng, mở tuyến, dỡ nhà làm đường cho xe đi trước khi trời sáng.
Cả làng rộ lên, tiếng chân người rầm rập từ các nơi lao về, tiếng trẻ con bị đánh thức khóc u ơ, tiếng lợn éc, tiếng gọi nhau, tiếng va đập tháo dỡ, tiếng nhà đổ sàn sạt, tiếng nghé con lạc mẹ rống lên như khóc. Trên con đường mòn về phía Xuân Lộc, những người đàn bà lầm lũi khiêng gánh hối hả trong đêm. Những đứa trẻ con ngồi trong thúng, đối trọng chênh vênh qua đầu đòn gánh nhấp nhô trên vai mẹ. Có cụ già ngồi trên lưng con trai cõng đi sơ tán, ông thều thào nói với con: con ơi! Cha có bộ quan tài góp nhóp cả đời mới mua được. Bây giờ tình cảnh thế này, con nói với anh em dân quân mang đi mà lát đường cho xe. Cha chết thì con cuốn chiếu mà chôn.
Quá nửa đêm, ngôi làng sầm uất trở thành bình địa. Nhà dỡ đến đâu, lát đường đến đó, hơn một cây số đường, từ quốc lộ 1A ra đến bờ sông Già phía tây đã hoàn thành. Đó là con đường kỳ diệu nhất trong lịch sử chiến tranh. Trong ánh đèn gầm, đoàn xe chở xăng hơn 100 chiếc lần lượt đi qua con đường bằng gỗ. Con đường xây nên từ những mái ấm gia đình. Trước lúc trời sáng đoàn xe đã lên những chuyến phà cơ động sang bờ an toàn. Sáng sớm, những người đàn ông trở về làng, họ về để tìm lại ông cụ và những gì còn sót lại. Dẫu sao cũng còn phải sản xuất, còn phải sinh sống, phải chiến đấu. Ngôi làng bây giờ chỉ còn lại những bụi tre ngơ ngác. Những chú lợn choai mất chuồng lao như mũi tên vào những bụi khoai môn hay cụm dong riềng còn sót lại. Mảnh chum, mảnh vại vỡ nát lổn nhổn. đàn gà con lạc mẹ kêu chim chíp bên cạnh đụn rơm. Một chút gì đó như sự buồn thương, nuối tiếc len qua lòng họ. Làm sao không thương tiếc cho được về những ngôi nhà mấy đời dành dụm xây nên, bây giờ chìm sâu trong bùn đất. Những lối ngõ thân quen chứa đựng bao kỷ niệm ấu thơ giờ đây mất dạng. Họ không thể trở về ngôi làng thân quen được nữa vì rất nhiều lý do. Ngoài kia giữa đồng cỏ năn, những bà mẹ đã trải qua một đêm dài dằng dặc với tâm trạng lo âu khắc khoải. Những đứa trẻ ngủ tròn trong thúng, hay vắt người qua vai mẹ ngủ ngồi trên bờ vùng, bờ thửa. Cánh đồng nơi họ sơ tán là một vùng trũng thấp, ngập ngụa đầy những con đỉa và loi thoi cỏ năn. Những túp lều tre được dựng lên vội vã để làm nơi trú ngụ. Mỗi nhà đào một cái hầm tròn ngay dưới gầm giường, nước cứ trào lên ngập hầm. Đêm ngủ phải tuốt vôi vào tay chân cho bớt đỉa cắn. Trong nỗi gian lao cơ cực ấy, điều lớn hơn đã nảy sinh trong lòng họ đó là niềm tự hào kiêu hãnh. Họ đã góp phần của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
Ước vọng
Bây giờ xóm Cót có cái tên mới là Hà Nam, xóm Trại, xóm ổ Ga là Tân Tiến, Minh Tiến, xã Hà Lội giờ đã thành tên xã Tiến Lộc. Những dấu tích xưa giờ không còn nữa. Cây đa làng cổ thụ, ba nhánh, bốn chồi đã bị bom Mỹ đánh gẫy cành, mất ngọn, cháy rụi rồi chết. Chỉ còn lại câu ca xưa váng vất đâu đó như linh hồn làng quê một thủa. Những ngôi làng xưa, giờ đã lành lặn hơn. Tôi gặp những cụ già, những bà con xóm Trại, xóm ổ Ga, nghe họ nhắc lại những năm binh lửa… Còn rất nhiều những người cống hiến hy sinh chưa có một chế độ gì. Họ nói về sự hy sinh như một kỷ niệm, chẳng ai nhắc đến quyền lợi của mình. Dù đó là những đau thương mất mát không bao giờ lấy lại được. Họ đã hiến dâng tất cả những gì mình có, kể cả một ngôi làng. Điều ước vọng, khát khao của họ chỉ đơn giản là một tấm bê tông, cỡ bằng mặt bàn, dựng ở đầu làng trên đó ghi chiến tích làng K130. Vậy mà quá khó?
Cuối chiều, tôi về ngồi bên cầu Già, nơi ngày ấy các chị hy sinh. Cầu già bây giờ chỉ còn ba cái mố trụ bơ vơ như răng ông già trước cửa miệng sông. Xuôi một chút là bến phà. Những năm chiến tranh chống Mỹ, đêm đêm hàng trăm lượt xe chở hàng ra mặt trận qua đây. Và đã có biết bao nhiêu xe đã không qua mỗi khúc sông này. Mới đây thôi, những người dò phế liệu gần cầu Già vừa đào và cẩu lên một xác xe Zin 157, từ trong ca bin bẹp dúm, một cái mũ cối cũng bẹp dúm văng ra và một chiếc dép đúc dính chặt vào chân phanh. Giờ này trên sông hoàng hôn đang về, ngày mưa, hoàng hôn không có sắc vàng. Mặt sông tím tái trủi đầy bong bóng, lặng lẽ và bí ẩn. Gió như bàn tay lạnh lẽo vuốt lên những khóm cỏ may lắc lư tựa hồ như nén hương cháy dở. Tôi đứng dậy định quay về chợt có tiếng gió rượt mạnh có tiếng ai đó thì thào nghe đất lạ. Tôi tự nhiên ớn lạnh, rùng mình, tiếng thở dốc như hụt hơn và bất thần tiếng con gái kêu lên thảm thiết: “Mẹ ơi”. Rồi tất cả lại chìm trong im lặng. Tôi nhìn quanh chẳng thấy ai. Đêm đã xuống từ lúc nào, con sông Già đặc quánh như vũng máu. Với tôi, đó là con sông buồn nhất trần gian.


PHAN TÙNG LƯU


 

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN