Có thể xử vi phạm BHXH bằng Luật Hình sự?

29/07/2015 - 03:00

Cần tuân thủ pháp luật hiện hành
Tuy rất đồng tình với ý kiến cần mạnh tay hơn nữa với các vi phạm về BHXH, nhưng theo các luật sư, việc xử lý vi phạm cần tuân thủ quy định luật pháp, theo quan điểm những gì luật pháp chưa quy định thì người dân được phép làm, tòa không thể căn cứ vào cảm tính để quyết định mức án, mà phải căn cứ vào các điều luật cụ thể. Theo ông Lê Thành Tâm- GĐ Sở LĐ- TB& XH TPHCM, vi phạm Luật BHXH đã có các điều khoản quy định của Luật BHXH xử lý như phải trả nợ, trả cả tiền lãi chậm nộp, lãi phạt. Do pháp luật hiện hành không đủ cơ sở khởi tố hình sự vi phạm này, nên chỉ phạt hành chính hành vi chiếm dụng tiền của người khác, mỗi vụ việc phạt tối đa 20 triệu đồng, không đủ sức răn đe.
Nhiều luật sư giải thích: Bộ Luật Hình sự Việt Nam không có điều luật nào quy định cụ thể việc “nợ” tiền BHXH là tội phạm. Do vậy không thể áp dụng Luật Hình sự vào vi phạm này, mà trên hết phải căn cứ vào Luật BHXH. Cụ thể, nếu chủ doanh nghiệp nợ BHXH, thì theo Điều 138 Luật BHXH, cơ quan BHXH có thể kiện doanh nghiệp đó ra tòa dân sự để yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc và lãi, yêu cầu phong tỏa tài khoản ngân hàng hoặc kê biên tài sản của doanh nghiệp nhằm đảm bảo thu hồi nợ, yêu cầu ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước trích tiền từ tài khoản của chủ doanh nghiệp để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng, lãi BHXH.
Có thể xử theo Luật Hình sự
Nhiều chuyên gia cho rằng, có thể xử vi phạm BHXH “chiếm đoạt tiền của NLĐ bằng luật Hình sự, với mức xử phạt nặng hơn rất nhiều so với các điều khoản trong Luật BHXH hoặc Luật Dân sự. Có như vậy thì các chủ doanh nghiệp sẽ không dám chây ỳ, giảm các vụ việc vi phạm BHXH.
Ông Lê Thành Tâm lý giải: Nếu ai đó chiếm đoạt của người khác (cướp, trộm) vài trăm ngàn đồng là có thể bị khởi tố, phạt tù…thì việc chủ doanh nghiệp không đóng BHXH cho NLĐ, nhưng vẫn trích 6% lương cơ bản (lương đóng BHXH) mỗi tháng của NLĐ là đã chiếm đoạt tiền của NLĐ. Nếu công ty có vài chục, vài trăm, vài ngàn NLĐ thì số tiền chiếm đoạt nêu trên là rất lớn, kéo càng dài thời gian sẽ càng lớn. Đó là chưa nói, vi phạm về BHXH đã làm thiệt hại nghiêm trọng cho hàng chục ngàn NLĐ như không có sổ BHXH, không được Nhà nước chăm lo khi ốm đau, thai sản, bị tai nạn lao động....Vì vậy, nên áp dụng Luật Hình sự vào hành vi chiếm đoạt tiền nêu trên.
TS Trần Du Lịch- Phó trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội TP.HCM cũng đồng ý với quan điểm trên với lập luận: Khi chủ doanh nghiệp không đóng BHXH thì trong tỷ lệ 23% lương cơ bản buộc phải đóng BHXH, có 17% của chủ doanh nghiệp, còn 6% là trích lương NLĐ. Như vậy, chủ doanh nghiệp đã chiếm dụng 6% lương cơ bản của NLĐ.
Một luật sư khác lý giải: Tuy Bộ Luật Hình sự không quy định tội danh vi phạm BHXH nhưng có thể vận dụng để xử lý hình sự. Đối với cơ quan BHXH thì DN là một pháp nhân “nợ” tiền BHXH nên chỉ có thể khởi kiện dân sự để thu hồi số nợ. Nhưng đối với NLĐ thì Ban giám đốc, người đại diện trước pháp luật và kế toán trưởng là những người chiếm giữ số tiền 6% trích từ lương của NLĐ, là hành vi “chiếm giữ trái phép tài sản” theo Điều 141 Bộ luật Hình sự. NLĐ là bị hại trong vụ án bị xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp.
 Từ các phân tích của các chuyên gia, các luật sư cho thấy cần xử phạt chủ doanh nghiệp không đóng BHXH theo lập luận phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản của người khác. Ngoài ra, chủ doanh nghiệp đã phạm tội: Lừa dối NLĐ, gây hại nghiêm trọng về quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ cả trong hiện tại lẫn tương lai. Nếu phát hiện số tiền 6% chiếm giữ trái phép nêu trên bị ban lãnh đạo doanh nghiệp thông đồng chia chác nhau thì phạm tội “tham ô tài sản” tại Điều 278 Bộ Luật Hình sự

Hoàng Lan
 

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN