Công cha như núi Thái Sơn…

08/09/2016 - 02:44

Hình ảnh chỉ mang tính minh họa cho bài viết - nguồn internet

Vu Lan có nguồn gốc từ chữ phạn Ullambana, phiên âm chữ Hán là Giải đảo huyền  (gỡ khỏi nạn treo ngược). Lễ Vu Lan có nguồn gốc từ Phật giáo (Ấn Độ) đến Việt Nam, sau hàng ngàn năm, được Việt hóa là dịp báo hiếu, “nhắc nhở” mọi người tưởng nhớ công ơn dưỡng dục sinh thành của cha mẹ, ông bà, tổ tiên, các anh hùng của dân tộc có công với đất nước. Theo truyền thuyết người Trung Quốc, ngày Vu Lan còn có ý nghĩa là ngày Xá tội vong nhân- ngày Cô hồn (hồn cô đơn không nơi nương tựa) có cơ hội được siêu thoát, con người nên rộng lòng tha thứ cho nhau, ăn năn hối cãi với lỗi lầm. Tháng 7 âm lịch còn được người Trung Quốc và người Việt tin rằng là Tháng cô hồn, tháng không may mắn, kiêng làm những việc cần sự may mắn như làm nhà, lập công ty, cưới hỏi…và nên làm việc thiện, giúp người. Đại văn hào Nguyễn Du đã làm bài “Văn tế Thập loại chúng sinh” thể hiện tình thương xót cho những cô hồn khốn khổ, những phận đời bất hạnh.

Nhiều tài liệu ghi Lễ Vu lan xuất phát từ sự tích về Bồ tát Mục Kiền Liên (đệ tử của Đức Phật lúc tại thế). Dù có thần thông quảng đại nhưng Mục Kiền Liên vẫn không đủ sức cứu mẹ ông thoát khỏi địa ngục khổ đau do bà đã gây nhiều nghiệp ác, Ngài phải nhờ công đức hợp sức của rất nhiều bậc chân tu mới cứu được mẹ của mình. Do vậy, ý nghĩa lớn nhất của ngày lễ Vu Lan đã đi vào tâm thức của người Việt là dịp tưởng nhớ công ơn cha mẹ, mọi người hợp sức làm điều thiện để tích đức cho mình, cho cha mẹ, gia đình và giúp đời. Danh nhân văn hóa Mạc Đĩnh Chi có làm bài phú ca ngợi công ơn cha mẹ cao như núi, rộng như biển. Mạc Đĩnh Chi kể rằng có anh chàng nọ suốt đời thiếu thốn trăm bề nên đã vô số lần mượn tiền của bạn và đều không trả nỗi. Đến khi anh chàng này chết, Diêm Vương ra lệnh cho anh đầu thai trở lại dương gian làm trâu cho người bạn để trả nợ nhưng anh ta muốn đầu thai làm cha của người bạn đó với lý do là ơn của bạn anh quá lớn, anh phải làm cha của người đó thì mới trả nỗi ơn. Mạc Đĩnh Chi dạy, làm cha (mẹ) còn khổ hơn trâu ngựa vì suốt đời tình nguyện tận tụy phục vụ cho con. Truyền thống đạo đức của người Việt luôn coi hiếu thảo là nền tảng của đạo đức, là khái niệm vô cùng thiêng liêng, cao cả. Là người Việt, hầu như ai cũng thuộc không ít thì nhiều một số ca dao, tục ngữ ngợi ca công ơn cha mẹ, giáo dục về chữ hiếu. 
Báo hiếu cha mẹ như thế nào cũng là việc đáng bàn. Báo hiếu cha mẹ bằng học tốt, làm việc tốt, làm người tốt thì luôn thỏa lòng mong ước của cha mẹ, làm cho cha mẹ vui lòng và tự hào về con của mình. Ai mà lười biếng, không lo lập thân lập nghiệp, lớn to xác mà vẫn không tự lo được cho mình (trừ bị bệnh) thì rõ là người bất hiếu bởi đã làm cho cha mẹ buồn đau khôn xiết, sống không thanh thản vì luôn lo buồn cho cuộc sống, tương lai mù mịt của con. Về góc độ dạy con, ta dạy con có hiếu nhưng ta lại đối xử về cha mẹ không tròn chữ hiếu thì e rằng khó dạy được con.  Dạy con phải bằng việc làm, phải làm gương. Nhiều người biết câu truyện cổ VN này: Có người nọ thường dùng tô chén sứt muỗng méo để cho cha mẹ ăn cơm, vì cha mẹ của ông già tay run sức yếu thường làm bể chén- tô… uổng của. Thấy vậy, thằng con của ông ấy thường gom cất chén tô sứt bể, rồi giải thích với ba nó là nó bắt chước ba, khi nào ba già nó dùng cho ba ăn, lỡ có bể cũng không tiếc. 
Có người nói ai cũng rất dễ bất hiếu. Mới nghe thật trái tai nhưng nghĩ kỹ là có lý. Bởi giữ chữ hiếu không dễ. Học tốt, làm việc tốt nói dễ nhưng làm không dễ. Chăm sóc cha mẹ già bệnh hoạn chu đáo cũng không dễ.  Biết là cha mẹ ta cần ta ở kế bên chăm sóc nhưng vì việc làm, vì lo gia đình con cái nên ta phải đi xa. Biết mẹ ta đang ngóng ta về thăm nhưng vì đường xá xa xôi, vì kinh tế khó khăn, vì mắc làm việc nên đành xin lỗi mẹ… Làm vui lòng cha mẹ già cũng không dễ, bởi già yếu hay đau nhức bực bội, khó tính, dễ giận, dễ tự ái, dễ cáu gắt…. 
 
Nguyễn Tấn Mân
Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN