Công đoàn Việt Nam Một chặng đường phát triển

16/08/2015 - 09:30

Một chặng đường phát triển
Qua 86 năm, tổ chức Công đoàn Việt Nam hình thành, xây dựng và phát triển. 86 năm ấy so với chiều dài lịch sử của một dân tộc thì mới là “Một chặng đường” khởi đầu. Nhưng trên chặng đường đó, tổ chức Công đoàn và CNVCLĐ Việt Nam đã đánh dấu nhiều mốc son lịch sử chói lọi.
Từ khi thành lập đến nay, trải qua các thời kỳ cách mạng với nhiều tên gọi khác nhau song Công đoàn Việt Nam vẫn là tổ chức duy nhất do Đảng sáng lập và lãnh đạo; là thành viên nòng cốt của khối liên minh Công – Nông – Trí và đại đoàn kết toàn dân; là sợi dây nối liền Đảng Cộng sản với giai cấp công nhân và là chỗ dựa vững chắc của Nhà nước trong mọi hoạt động. Công đoàn Việt Nam là tổ chức quần chúng rộng lớn nhất của giai cấp công nhân, một tổ chức thống nhất về chính trị, tổ chức. Công đoàn Việt Nam luôn bám sát nhiệm vụ chính trị của đất nước, thường xuyên đổi mới phương thức hoạt động, tăng cường mở rộng quan hệ quốc tế để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm nhằm chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động ngày càng tốt hơn.
Trong công cuộc đổi mới, giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam luôn là lực lượng hăng hái đi đầu trong công cuộc đổi mới, góp phần tạo nên những thành tựu bước đầu, nhưng rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và duy trì phát triển sản xuất, quyết tâm đổi mới hoạt động, tiếp cận với hình thức tổ chức kinh tế mới, công nghệ mới hiện đại, thúc đẩy kinh tế phát triển theo hướng xây dựng nền CNH-HĐH đất nước, thời kỳ Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới. Từ năm 1988-2015, cả nước có hàng chục nghìn người được tặng Bằng khen, Huy hiệu “Lao động sáng tạo” và hàng chục vạn người đạt tiêu chuẩn “Lao động giỏi”.
Thời cơ và thách thức…
Cùngvới sự phát triển đi lên của đất nước, của Đảng, tổ chức Công đoàn Việt Nam cũng đang đứng trước những thời cơ và thách thức đan xen.
Nước ta trở thành thành viên của WTO, góp phần tạo ra cơ hội tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội. Một số ngành kinh tế có thể phát triển nhanh nhờ vào mức tăng trưởng kinh tế đạt được thông qua quá trình tự do hóa thương mại, mang lại nhiều cơ hội việc làm, làm giảm thất nghiệp và tăng thu nhập cho công nhân, lao động. Hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới làm tăng cơ hội để lao động nước ta tiếp cận trực tiếp với nền sản xuất hiện đại với trình độ và kinh nghiệm quản lý, điều hành sản xuất, kinh doanh tiên tiến góp phần nâng cao trình độ, kỹ năng, tác phong lao động, kiến thức tổ chức, quản lý của người lao động Việt Nam. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập WTO đưa đến sự tăng nhanh số lượng lao động, tăng nhanh các đơn vị sản xuất, kinh doanh trong các thành phần kinh tế, là cơ sở xã hội và tiền đề thuận lợi để Công đoàn vận động kết nạp đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở.Đảng ta đã ban hành Nghị quyết xây dựng giai cấp công nhân. Nghị quyết khẳng định quan điểm, mục tiêu của Đảng về xây dựng giai cấp công nhân ngày càng vững mạnh đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước…
Cùng với đó là những thách thức đặt ra, đó là tự do hóa thương mại nhiều hàng hóa sẽ nhập khẩu vào nước ta với số lượng ngày càng lớn chiếm lĩnh thị trường của các sản phẩm nội địa cùng loại làm cho doanh nghiệp trong nước gặp nhiều khó khăn, phải thu hẹp sản xuất hoặc giải thể, phá sản dẫn tới lao động trong các ngành sản xuất đó bị mất việc làm. Sự di chuyển lao động từ các vùng nông thôn tới các thành phố và các khu công nghiệp làm cho vấn đề việc làm, nhà ở và sự tập hợp công nhân ngày càng khó khăn. Việc gia tăng nhanh lao động công nghiệp đặt ra hàng loạt vấn đề cho quản lý nhà nước và công đoàn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng.
Sự phân hóa về thu nhập, đời sống trong CNLĐ nước ta dẫn đến những bất bình đẳng về cơ hội, quyền lợi và địa vị xã hội giữa những người lao động như: bất bình đẳng trong tiếp cận hệ thống giáo dục, hệ thống đào tạo, dạy nghề; trong cơ hội tạo việc làm, tìm kiếm việc làm và thay đổi việc làm; trong tiếp cận hệ thống chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, chữa bệnh; bảo hiểm xã hội; trong cơ hội giao lưu trong nước và quốc tế, trong hưởng thụ đời sống vật chất và hưởng thụ văn hóa, tinh thần; trong điều kiện quan tâm, chăm sóc các thành viên trong gia đình...
Các cấp công đoàn linh hoạt, sáng tạo...
Đứng trước thời cơ và thách thức trên, Đại hội XI Công đoàn Việt Nam đã đề ra một số chỉ tiêu phấn đấu đến hết năm 2018, cụ thể là phấn đấu phát triển đoàn viên đến năm 2018 cả nước có 10 triệu đoàn viên, 90% trở lên số đơn vị, doanh nghiệp đã đi vào hoạt động và có từ 30 lao động trở lên thành lập được tổ chức công đoàn cơ sở. 100% số cán bộ công đoàn chuyên trách, 70% trở lên số cán bộ công đoàn không chuyên trách được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về lý luận, nghiệp vụ công tác công đoàn. Bảo đảm nguồn kinh phí chi cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn. Hàng năm có 80% trở lên số công đoàn cơ sở ở các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước và 40% trở lên số công đoàn cơ sở ở khu vực ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt tiêu chuẩn “Công đoàn cơ sở vững mạnh”.
Bình quân hàng năm mỗi công đoàn cơ sở giới thiệu ít nhất 1 đoàn viên công đoàn ưu tú cho tổ chức Đảng bồi dưỡng, xem xét kết nạp vào Đảng. 100% số Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố, Công đoàn ngành Trung ương, Công đoàn Tổng công ty trực thuộc Tổng Liên đoàn thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật hoặc Văn phòng tư vấn pháp luật hoặc tổ tư vấn pháp luật. 100% số cán bộ chủ chốt công đoàn các cấp, 100% số cán bộ nữ công công đoàn cấp trên cơ sở được bồi dưỡng, tập huấn nội dung về bình đẳng giới, lồng ghép giới trong hoạt động công đoàn...
Lịch sử 86 năm Công đoàn Việt Nam đã có nhiều cuộc tổng kết lớn, nhiều bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn hoạt động. Việc nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, sáng tạo những bài học kinh nghiệm đó vào điều kiện hoạt động cụ thể của các cấp Công đoàn trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và chủ động hội nhập kinh tế Quốc tế có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất sâu sắc. Đặc biệt đối với CNVCLĐ tìm hiểu về tổ chức Công đoàn Việt Nam là để nâng cao nhận thức chính trị đồng thời là vũ khí lý luận để họ bảo vệ chính mình. Đó là quyền lợi, là trách nhiệm của mỗi CNVCLĐ

Hoàng Văn (tổng hợp)
 

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN