Hùng binh Hoàng Sa- huyền thoại về những người giữ đảo

24/07/2014 - 00:00

Hải đội Hoàng Sa có chức năng chính là tìm kiếm các sản vật, hải vật ở vùng biển Đông,
mà chủ yếu ở vùng quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa về giao nộp lại cho kinh thành Huế; đồng thời cắm mốc xác định chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo này. Và, sứ mệnh cao cả, thiêng liêng này được giao cho những người dân làng An Vĩnh và An Hải ở vùng cửa biển Sa Kỳ, tỉnh Quảng Ngãi. Sau này, khi dân làng An Vĩnh và An Hải ở Sa Kỳ ra định cư ở đảo Lý Sơn, đã lấy nguyên tên làng trong đất liền làm tên làng trên quê hương mới, thì những người lính Hải đội Hoàng Sa chủ yếu là tuyển trong dân hai làng An Vĩnh và An Hải (trong đó, nhiều nhất là người làng An Vĩnh) trên đảo Lý Sơn (hiện nay thuộc huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi). Dưới thời Minh Mạng, Hải đội Hoàng Sa đã được chuyển đổi thành Thủy quân Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa và Bắc Hải.

 

Ngôi mộ của Cai đội thuỷ quân Hoàng Sa Phạm Hữu Nhật ở Lý Sơn. (Ảnh: Tư liệu)

Theo các nhà nghiên cứu, sở dĩ đảo Lý Sơn được chọn làm đảo tiền tiêu bảo vệ Hoàng Sa, và người dân Lý Sơn được chọn làm lính của Hải đội Hoàng Sa, là bởi: thứ nhất, để ra Hoàng Sa, Lý Sơn là nơi gần nhất; thứ hai, trong một năm, vào tháng 2 – 3 âm lịch, có đợt gió thổi mạnh từ Lý Sơn ra Hoàng Sa và vào tháng 8 âm lịch, có đợt gió thổi ngược lại từ Hoàng Sa vào đất liền, rất thuận lợi cho thuyền buồm đi lại; thứ ba, lý do quan trọng nhất là bởi người các làng ven cửa biển Sa Kỳ, sau này là trên đảo Lý Sơn rất giỏi nghề đi biển (người Lý Sơn là những người đã vươn ra xa bờ hơn những cư dân ven biển khác, với ngư trường quen thuộc là Hoàng Sa, Trường Sa, và có khá nhiều kinh nghiệm trong các nghề lưới kéo, lưới vây, lưới rê, lưới chuồn, mành đèn, mành chà, câu cá khơi, câu mực khơi, pha xúc, nghề lặn...). Biên chế của Hải đội Hoàng Sa, thường có 70 thanh niên trai tráng khỏe mạnh, giỏi đi biển, cứng sóng, nhất là có lòng quả cảm. Định chế đăng lính Hải đội Hoàng Sa (và sau này cả Trường Sa) được phân đều cho các họ trên đảo (thường là con thứ, vì người con trưởng phải ở nhà lo việc tế tự), không phân biệt thuộc dòng họ tiền hiền hay hậu hiền thuộc hai làng An Vĩnh và An Hải, theo nguyên tắc luân phiên nhau.

Phương tiện đi biển của Hải đội Hoàng Sa là những chiếc ghe câu. Ghe Câu là phương tiện của ngư dân Lý Sơn dùng để đánh bắt hải sản xa bờ, dài ngày trên biển. Ghe Câu có chiều dài từ 10-12m, rộng từ 2,5 – 3m, chiều cao từ 0,8-1m, trọng tải từ 5-6 tấn, di chuyển bằng buồm, nhờ sức gió. Ngư dân Lý Sơn rất giỏi điều khiển thuyền buồm. Những lúc thiếu gió hay ngược gió, họ có kỹ thuật chạy “vát” hay chạy “ganh” rất độc đáo, bằng cách kéo xiên cánh buồm, làm cho ghe tiến về phía trước theo ý người điều khiển. Từ đầu thế kỷ XVII đến những năm 50 của thế kỷ XIX, nhà nước phong kiến Việt Nam đã dùng ghe câu để đưa binh phu đi tuần thú và tìm kiếm hải vật trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mỗi khi đi làm nhiệm vụ, Hải đội Hoàng Sa thường sử dụng 7 - 8 thuyền. Mỗi thuyền câu chở 9- 10 người, cùng ngư cụ, lương thực đủ ăn trong 6 tháng, lu đựng nước ngọt, dụng cụ nấu ăn (như: nồi đồng, niêu đất...). Mỗi người có một thẻ bài ghi rõ danh tính, bản quán, phiên hiệu.

Trước khi ra đi, mỗi người lính Hoàng Sa phải tự chuẩn bị cho riêng mình một đôi chiếu cói, 7 đòn tre, 7 sợi dây mây, để phòng trước, nếu không may ngã xuống, thì đôi chiếu, những chiếc đòn tre và các dây mây kia là vật dụng để đồng đội bó xác người chết trên thuyền sau đó thả trôi trên biển, thông qua lời cầu nguyện hy vọng sóng sẽ đưa xác người xấu số trôi dạt về đất mẹ Lý Sơn để người thân chôn cất và thờ cúng họ. Hàng năm, cứ đến tháng 2 hoặc tháng 3 âm lịch, tùy thời điểm gió thổi từ đất liền ra biển, Hải đội Hoàng Sa sẽ lên đường cưỡi sóng ra quần đảo Hoàng Sa. Nếu chuyến đi suôn sẻ, tháng 8 âm lịch đoàn thuyền sẽ trở về cửa Eo (Thuận An- Huế) để nộp cho kinh thành Huế các loại hải sản quý giá và những thứ nhặt được trên vùng biển đảo này, như đồ đồng, đồ thiếc.. Thủa đó, những người lính Hải đội Hoàng Sa phải lênh đênh cùng sóng gió trong 6 tháng ròng ở một vùng biển sóng dữ như vùng biển thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chỉ với những chiếc thuyền câu, chạy bằng buồm, hơn ai hết, những người dân Lý Sơn nói chung, những người đăng lính Hải đội Hoàng Sa nói riêng (tất nhiên là những người quản lý chính quyền thời đó cũng hiểu, cũng biết) ai cũng biết rằng số phận người đi lính Hoàng Sa quá mỏng manh, xem như đành gửi theo trời mây và bọt biển. Trước khi đi mà cái chết xem như đã cầm chắc, sống sót trở về, chỉ là điều may mắn. Bởi thế, mỗi lính Hoàng Sa đã chuẩn bị sẵn đồ hậu sự cho mình. Trong hành trang mang theo, mỗi người lính Hoàng Sa đã mang sẵn đồ khâm liệm cho mình là đôi chiếu cói, 7 thanh nẹp bằng tre và 7 sợi dây mây, với một tâm niệm, nếu nằm xuống giữa biển khơi, thân xác được đồng đội bó chiếu sẽ được trời biển thương xót mà đưa về đất mẹ. Còn sống để trở về, đối với họ, chỉ là hy vọng mỏng manh như mây trời và bọt biển. Hy vọng, nói đúng hơn, sự đấu tranh với cái chết đó, được người thân cùng với người ra đi, thông qua những thầy cúng / thầy phù thủy, cùng thực hành trước khi mỗi người lính xuống thuyền một nghi thức, đó là lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Đây là lễ/lệ nhằm khao quân, và thực hiện nghi lễ tế sống (thông qua nghi lễ hình nhân thế mạng) cho những người sắp xuống thuyền đi thực thi nhiệm vụ triều đình giao phó, và mặt khác, còn để tế lễ và tưởng nhớ linh hồn những người lính Hoàng Sa, Trường Sa đã khuất. Nghi lễ thế/tế lính là nghi lễ tế sống, mang đậm yếu tố phù phép của đạo giáo nhằm thếmạng cho người đi lính. Nghi lễ được thực hiện như sau: trước khi ra đi, cùng với việc tộc họ bàn soạn lễ vật xanh tươi, hương đăng tỏa rạng, thầy phù thủy sẽ nặn hình nhân thế mạng bằng bột gạo, bằng giấy, hoặc bằng đất sét. Hình nhân thế mạng sẽ được đặt cạnh linh vị đã ghi tên tuổi người đi lính Hoàng Sa.

Trong khói hương nghi ngút, lời phù chú lầm rầm trên nền nhạc bát âm, ngũ âm xen lẫn tiếng mõ thị uy của thầy phù thủy với áo thụng, mũ tam sơn sẽ diễn ra dềnh dàng suốt cả 2 ngày. Có bao nhiêu người đi lính trong dòng họ sẽ có bấy nhiêu hình nhân và linh vị. Trong lúc làm lễ, người lính Hoàng Sa phải đứng cạnh hình nhân và linh vị của mình. Người lính ấy phải đứng hầu thần suốt buổi tế lễ bằng chính niềm tin là lời nguyện cầu của chính mình, của tộc họ sẽ thấu suốt đấng linh thiêng và ngón nghề ấn quyết của thầy phù thủy sẽ xua được tà ma quỷ ám trên dặm dài sóng nước. Sau lễ thức ở nhà thờ tộc họ, người Lý Sơn sẽ đặt các hình nhân và linh vị, cùng những thứ tượng trưng mà người đi lính Hoàng Sa, Trường Sa thường mang theo như: gạo, muối, củi, nước ngọt, lưới… vào những chiếc thuyền bằng giấy, tượng trưng cho thuyền đi Hoàng Sa, Trường Sa thủa trước, rồi đem thả ra biển. Lời nguyện cầu về sự bình yên lẫn lời xua đuổi rủi ro sẽ được bỏ chung cùng thuyền lễ. Giữa bập bềnh sóng gió, hình nhân là kẻ thế mạng cho người đăng lính kia. Khi buổi tế lễ thế lính Hoàng Sa kết thúc, người lính coi như “đã có một lần chết”, và “hùng binh” ấy có quyền tin tưởng rằng mình sẽ không còn phải chết nữa, cho dù sẽ trải qua muôn vàn bất trắc trên biển khơi ròng rã 6 tháng liền. Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa đã đi vào câu ca: “Hoàng Sa trời nước mênh mông Người đi thì có mà không thấy về Hoàng Sa mây nướ c bốn bề Tháng ba khao lề thế lính Hoàng Sa” Câu ca quá não nùng, nhưng đấy lại là sự thật, là lời tóm tắt số phận c ủ a n hữ n g ng ư ờ i đi l í nh Ho à n g Sa , T r ư ờ n g Sa t ừ t h ủ a x a x ư a ấ y . Mỗi năm, người Lý Sơn đi lính, đi đánh cá ở Hoàng Sa nhiều, nhưng số người trở về không bao nhiêu. Có năm, cả 70 người trong Hải đội Hoàng Sa đi nhưng không có ai trở về. Hải đội Hoàng Sa tồn tại và hoạt động liên tục suốt 3-4 thế kỷ. Đã có hàng vạn trai tráng đã phải vượt qua không biết bao nhiêu sóng gầm, bão tố để đo đạc thủy trình, cắm cột mốc dựng bia chủ quyền lãnh thổ và khai thác tài nguyên biển đảo ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong số hàng vạn người ra đi ấy, người có may mắn trở về không nhiều. Và, phần lớn trong số họ đã một đi, không trở về. Những tên tuổi được ghi trong sử sách và những tài liệu Hán Nôm còn lưu trữ, như: Cai đội Võ Văn Khiết (1786), Cai đội Võ Văn Phú (1803), Cai đội Phạm Quang Ảnh (Ất Hợi 1815), Chánh Thủy quân suất đội Phạm Văn Nguyên (Ất Mùi, 1835), Chánh Thủy quân suất đội Phạm Hữu Nhật (Bính Thân, 1836)…Bên cạnh đó là những đà công, thủy thủ được ghi chép trong văn bản cổ của dòng họ Đặng tại thôn Đồng Hộ, làng An Vĩnh, là những người đã từng được nhà Tây Sơn, vua Gia Long, vua Minh Mạng cử đi Hoàng Sa, kiêm quản Trường Sa, hầu hết đều là những người đã không có cơ may trở về. Hình ảnh những khu mộ gió (còn gọi là mộ chiêu hồn) không hài cốt người của các tộc họ Phạm Quang, Phạm Văn, Vĩ Văn…phơi trong nắng gắt và bão biển Lý Sơn hàng trăm năm qua đã là một minh chứng đầy bi hùng trong quá khứ. Từ bao năm nay, cứ đến tháng 2, 3 âm lịch, người Lý Sơn tổ chức lễ khao lề thế lính Hoàng Sa (hay khao lề tế lính Hoàng Sa).

Những người Lý Sơn khi được tuyển chọn làm lính Hải đội Hoàng Sa, đều biết là đi không hẹn ngày về; là chỉ có một phần sống, tới 9 phần chết, và biết, dù có “hình nhân thế mạng rồi”, thì phần sống để trở về với người thân cũng… chỉ là mây trời, bọt biển, khó lường. Vậy mà những người lính Hoàng Sa vẫn ra đi. Họ xứng đáng với lời khen tặng của vua Tự Đức, những “Hùng binh Hoàng Sa”. Để tri ân công trạng của những người dân binh này, triều đình nhà Nguyễn sẽ miễn thuế hàng năm, trợ cấp lương thực, kèm theo đó còn được làng cấp cho quĩ đất để gia đình người thân của dân binh Hoàng Sa tử nạn trồng tỏi mưu sinh làm ăn sinh sống. “Hùng binh Hoàng Sa” chính là những cảm tử quân, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Bởi, Hoàng Sa, Trường Sa là một phần không thể tách rời của Tổ quốc, họ hy sinh không tiếc thân mình. Kế tục và phát huy truyền thống kiên cường và quả cảm của những Hùng binh Hoàng Sa xưa, là mệnh lệnh của trái tim, trách nhiệm của các thế hệ người Lý Sơn nói riêng, người Việt Nam nói chung để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền biển đảo nước ta.
 

SAN SAN

 

 

 

 

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN