Ký ức một thời quê mẹ

20/06/2018 - 10:35

(LĐBD) - Sau 35 năm, quê tôi đã đổi thay. Con đường đất xưa kia mùa nắng lầm bụi đỏ, ngày mưa bết dính chân người, bây giờ là đường nhựa phẳng lì. Hàng ngàn “vườn cây ao cá” của người dân hai bên đường liên xã ngày trước, giờ là “nhà ống” kiểu phố. Thay vào những ngôi nhà vách đất đơn sơ là nhà lầu, nhà mái bằng san sát kề nhau

1, Cho đến bây giờ sau nhiều năm thoát ly xa gia đình, dù cuộc sống đã khá đủ đầy nơi phồn hoa đô thị, song tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình xa quê vĩnh viễn. Ở cái tuổi chưa già nhưng không trẻ, không phải ai xa quê cũng luôn đau đáu về nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình, điều đó cũng dễ hiểu bởi, nơi thị thành tráng lệ xa hoa, cuộc sống đủ đầy vật chất dễ làm cho nhiều người quên đi cái thủa hàn vi, đói khổ.

 Đường làng quê mẹ ngày xưa

Quê tôi- xã Nga Tân- xã đồng chua nước lợ trồng cói nghèo nhất trong 26 xã của huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Vào những năm 1986-1990 của thế kỷ XX, người dân quanh năm đói khổ, cuộc sống lam lũ “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, sống chết nhờ cậy vào cây cói. Nhà tôi nghèo nhất xóm, lại đông chị em, cuộc sống bần hàn quanh năm cơ cực, ăn bữa sáng, nhịn bữa tối. Thời bao cấp, 95% hộ gia đình bữa cơm độn khoai sắn nhiều hơn gạo. Cũng như nhiều gia đình khác, để kiếm bữa cơm “gạo ít sắn nhiều”, mẹ tôi phải chật vật quang gánh mưu sinh, ra đồng bắt cáy kiếm tiền đong gạo nuôi con.

Quán mía đầu làng

Có một kỷ niệm buồn tôi không thể nào quên được. Đó là một ngày cuối đông cách đây 35 năm trước. Sớm tinh mơ ấy cũng như bao buổi sớm lệ thường, vai mẹ đeo xời, tay cầm thuổng ra đồng bắt cáy. Cái rét thấu xương. Đôi chân mẹ thoăn thoắt vượt qua bãi bùn đáng. Dáng người nhỏ thó của mẹ bị che khuất bởi cánh đồng cói tốt lút đầu, mẹ rạp người, tay chọc thuổng, tay vồ cáy. Bữa trưa giữa đồng cói giá lạnh là nắm cơm khoai khô gói trong mo cau, nước ngánh phù sa giúp mẹ qua cơn khát. Sau một ngày rét thấu xương “bán mặt cho đất”, mẹ trở về nhà lúc xế chiều. Đôi vai nặng trĩu 5 xời cáy, quần áo bết bùn rời rã đôi chân.

Ăn vội miếng cơm khoai, mẹ đem cáy đi vào Làng Trung bán. Làng Trung ngày ấy là quê chồng của mẹ. Người dân nơi đây cũng một đời lam lũ, nhưng đói còn có khoai, có rau ăn, còn quê mẹ “đồng chua nước lợ”, “gạo chợ nước sông”, một ngày không ra đồng là tắt bữa.

Chị em tôi chờ mãi chẳng thấy mẹ về trong khi bóng tối đang dần kéo đến. Sốt ruột, tôi và chị Hai vượt qua xóm 8, vòng xuống triền đê Nga Thủy (xã Nga Thủy huyện Nga Sơn) tìm mẹ. Từ xa, dáng mẹ hao gầy phía cuối đê. Trên vai trĩu nặng gánh khoai lang- sản phẩm của một ngày cơ cực. “Đúng mẹ rồi”- chị tôi mừng rỡ reo lớn. Nhưng cũng đúng lúc đó, mẹ đổ sụp nằm sõng xoài trên đất. Chị em tôi chạy đến gọi “Mẹ ơi, mẹ làm sao thế?”, rồi lấy hộp cao sao vàng xoa vùng thái dương. Chị tôi cởi chiếc áo ngoài đắp lên ngực mẹ. Chừng 10 phút sau, mẹ tỉnh dậy nói: “Mẹ không sao đâu. Về thôi các con”. Thì ra mẹ đuối sức vì đói. Tôi gánh hai rổ khoai lang, chị tôi dìu mẹ về đến nhà cũng vừa lúc lên đèn.

Đó là ký ức về mẹ mãi mãi không phai mờ trong trái tim tôi. Gánh khoai lang trằn nặng trên đôi vai của mẹ ngày xưa đã nuôi tôi trở thành một sĩ quan quân đội hôm nay.

 Tình  nghĩa xóm làng

2,  Sau chặng đường 70 km từ sân bay Thọ Xuân (Thành phố Thanh Hóa), tôi về đến đầu xã Nga Tân lúc xế trưa. Ngồi trên xe ôm, tôi hỏi chị bán mía ven đường: “Chị cho hỏi nhà chú Dũng xóm 7 Nga Tân ạ?”. “Chú đi thẳng đến ngã tư rồi rẽ phải, chạy hơn cây số là nhà Dũng đấy”- chị bán mía chỉ.  

 Đường thôn hôm nay

Sau 35 năm, quê tôi đã đổi thay. Con đường đất xưa kia mùa nắng lầm bụi đỏ, ngày mưa bết dính chân người, bây giờ là đường nhựa phẳng lì. Hàng ngàn “vườn cây ao cá” của người dân hai bên đường liên xã ngày trước, giờ là “nhà ống” kiểu phố. Thay vào những ngôi nhà vách đất đơn sơ là nhà lầu, nhà mái bằng san sát kề nhau. Cây táo bờ ao mẹ trồng ngày xưa, nay không còn nữa. Khoảng sân, bể nước ngày ấy giờ là bồn hoa hồng kiêu hãnh. Mái nhà tranh nơi tôi chào đời xưa kia giờ chỉ là ký ức… Tôi không chỉ ngỡ ngàng vì quê hương đổi mới, mà còn “mở cờ” trong bụng “cái xã nghèo nhất của tỉnh Thanh giờ đã đổi đời”.

Thu hoạch cói tại đồng

Thấy tôi ngỡ ngàng, ông Mai Anh Tuấn, Phó Chủ tịch HĐND xã Nga Tân bảo: “Quê mình bây giờ khác xưa rồi ông ạ. Ngày ông đi bộ đội, chạc khoai không có mà ăn, nay khoai là quà, bánh. 100% hộ gia đình có ti vi màn hình phẳng, hơn 80% có mạng wifi, 95% hộ gia đình có tủ lạnh, thanh niên, người lớn đều có điện thoại thông minh. Nhà ai cũng có xe máy, nhiều nhà mua được xe ô tô. Sáng ra đồng, chiều về là có bạc triệu, tiền trăm cả đấy”. Giờ quê mình còn làm cói không? Tôi hỏi. “Có chứ. Nghề truyền thống bỏ sao được. Nhưng nhiều nhà khoán hết cho thợ, đi mò cua, mò ngao biển mới có tiền làm giàu, chứ làm cói thì không đủ ăn đâu”- ông Tuấn phân trần.

 Gù cói trên đường nhựa

Sau một đêm “no giấc” dưới căn nhà mái bằng của người em còn thơm mùi sơn mới, tôi và chị Hai “phi” xe máy ra biển. Tuy vẫn cánh đồng cói ngày xưa bát ngát trải dài xa tít, nhưng người dân không phải kéo cói dưới sông, chẻ cói trên bãi nổi, phơi cói phía triền đê như xưa nữa; mà cắt đến đâu, chẻ, phơi, gù luôn đến đó. Ruộng cói là nhà dã chiến, thu hoạch hết cánh đồng này, chuyển sang cánh đồng khác. Chị Hai bảo, giờ làm cói nhàn lắm. Năm nay cói được mùa. Cói ngắn triệu hai một tạ, cói dài hơn ba triệu. Nhiều nhà bán cói mua tủ lạnh, ti vi xịn. “Cậu thấy đấy, ra ngõ là gặp quán, hàng, ăn gì cũng có lại sạch sẽ. Dân mình nhà nào cũng no “trằn ruột” cậu ạ”.

 Đưa cói về nhà

Bỏ lại phía sau hàng chục cánh đồng sú, vẹt, trước mắt tôi là con đường 26 km cấp phối bê tông, nối liền đê 3 xã Nga Tân với ngư trường Cồn Thoi tỉnh Ninh Bình, và hàng trăm “nhà chòi” lớn nhỏ canh ngao biển. Đó là những chòi của những ông chủ “có máu mặt” làm giàu bằng nghề cào ngao xuất khẩu. Ông Phạm Văn Nhàn ở xã Nga Liên-  một trong những doanh nghiệp trẻ của huyện Nga Sơn cho biết, quân bình mỗi ngày doanh nghiệp ông cào trên dưới ba tấn ngao, trừ chi phí, lương công nhân, doanh nghiệp thu lời cả tỉ đồng/tháng. “Ngoài làm ngao trắng, doanh nghiệp tôi còn nuôi tôm thẻ, nuôi ong lấy mật. Mùa nào thức ấy, đầu ra ổn định. Anh nhìn kìa, trên những căn chòi canh ngao ấy có đầy đủ ti vi, sóng điện thoại di động. Muốn vào bờ “a lô” là có ghe thuyền đến đón ngay”, anh Nhàn, nói.

 Những chòi trông bãi cào ngao phía ngoài biển

3, Bây giờ Nga Tân được coi là xã giàu trong 6 xã đồng cói của huyện Nga Sơn. Người dân tứ xứ về Nga Sơn du lịch, sau khi thăm núi Mai An Tiêm, Hang Từ Thức, không quên “phượt” ra đê ba Nga Tân thưởng thức món gỏi cá nhệch- một đặc sản miền biển của người dân bản xứ. Hàng chục nhà hàng “mọc” lên phía biển. Chiều cuối tuần, hàng trăm xe máy, xe ô tô đưa khách ra ngắm bãi vẹt, đi thuyền ra đảo Nẹ, hít thở không khí trong lành. Giữa đất trời mênh mông, bưng bát canh cáy nấu với rau đay, nhâm nhi món gỏi cá nhệch cuộn trong lá tía tô, tất cả du khách đều cảm nhận yên bình và hẹn một ngày không xa sẽ quay trở lại.

Quê hương đổi mới từ bùn lầy, người dân có nhà cao cửa rộng, ăn ngon, mặc đẹp từ bần hàn cơ cực. Trong hàng trăm căn nhà lầu, nhà mái bằng là những con người mới thế hệ 8X, 9X với lối sống hiện đại. Song, có một thứ không bao giờ thay đổi, đó là tình người, tình làng, nghĩa xóm. Ngày thường, ai làm việc đó, nhưng hễ có con lợn ngon, giết thịt mời cả xóm đến ăn. Đám cưới một người, cả xóm đến chia vui; nhà ai có đám tang, cả làng đến hỏi han chia buồn. Ngày tết đến thăm nhau cầu chúc sức khỏe, ngày giỗ đến ăn miếng trầu tưởng nhớ người quá cố.

Ông Mai Văn Lạc, nguyên đại úy công an đã nghỉ hưu ở xóm 7 Nga Tân cho biết, so với các xã đồng cói thì Nga Tân no hơn nhiều. Đời sống của bà con ngày càng khá giả. Điều đáng mừng là tình nghĩa xóm làng vẫn giữ vững, đoàn kết làm ăn, phấn đấu làm giàu, cùng nhau xây dựng nếp sống văn minh nông thôn mới…

Quyến luyến lắm nhưng cũng phải chia xa. Sau một tuần trở về quê mẹ, tôi trở lại phương Nam nơi đơn vị đóng quân. Sau 35 năm đặt chân đến nhiều miền đất xa xôi khắp mọi miền Tổ quốc, bây giờ tôi mới hiểu rằng, chẳng đâu nhớ bằng quê hương, chẳng đâu nghĩa nặng tình sâu bằng làng quê xứ sở, chẳng nơi nào đẹp bằng quê mẹ.

Bài ảnh, Mai Thắng

 

 

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN