Làng Tây Mỗ mai này chỉ còn là ký ức!

24/10/2014 - 03:04

Tây Mỗ ơi, ngày ấy…
 Đây chẳng phải là phố, nhưng mảnh đất chiêm mùa này tự ngàn xưa đã được coi là đất lành, đất chật người đông, nhà cửa lấn sát vách vào nhau, đường ngõ nhỏ càng trở nên hun hút.
Thập thò đâu đó dưới lừng lững những bê tông cốt thép, vẫn thấy những cổng nhà cổ, những ngôi từ đường trong khuôn viên nhà ai đó buồn thiu lặng ngắt. Từ trên cao trông xuống, gam màu trầm rêu phong ấy như bị nuốt chửng mất bởi những mái tôn xanh đỏ, bởi lấp loáng bình nước kim loại Sơn Hà.
 Tây Mỗ bây giờ, lẫn lộn cổ kim giữa buổi giao thời. Cơn lốc đô thị hóa len lỏi vào tận ngóc ngách của làng quê không chừa một thứ gì. Nó phá vỡ cấu trúc bền chặt ăn sâu tự bao đời của mảnh đất này, nó làm “lũ trẻ thì ào ào sống và người già thì ngẩn ngơ tiếc”- như lời của cụ Đỗ Văn Tịnh.
Cụ Tịnh đã thượng thọ 90, da đồi mồi, tóc bạc như cước, lẩy bẩy chống gậy ra trước sân gạch, ngửa đầu lên nhìn quanh rồi ngán ngẩm: “Ngày trước, cuộc sống của người dân làng Mỗ bình yên lắm con ơi. Dưới bóng mát tre xanh, bên bờ ao, người già, trẻ con ngồi đan lưới, xe chỉ, quay tơ. Những cụ già trong làng thường ngồi bên nhau dưới gốc đa, sân đình mà bàn chuyện làng quê. Đó mới là hồn cốt làng quê”.

Sử sách còn chép lại, làng Tây Mỗ từ xưa vốn đã nổi tiếng khắp nước về truyền thống khoa bảng. Dưới các triều đại phong kiến, làng Tây Mỗ tự hào có tới 7 vị tiến sĩ là: Nguyễn Am (đỗ năm 1453), Hoàng Thiệu (1475); Nghiêm Hoàng Đạt (Bảng nhãn, 1583), Nguyễn Đương Bao (1673), Nghiêm Bá Đĩnh (1733), Đỗ Huy Điển (Phó bảng, 1875) và Nghiêm Xuân Quảng (1895). Sử làng vẫn chép và tấm bia ngoài đình vẫn khắc rõ tên của những vị danh gia ấy.
Truyền thống khoa bảng là niềm tự hào cả một đời với một người nệ cổ và ham chữ nghĩa như cụ Tịnh. Chẳng biết có phải chữ nghĩa cùng những quy định nghiêm ngặt về lệ làng truyền lại hay không mà người Tây Mỗ từ thưở trước vẫn kiên quyết giữ nếp sống cổ, lối suy nghĩ cổ. Tây Mỗ từng được biết đến là một trong những làng cổ hiếm hoi của Hà Nội còn giữ được không gian cổ kính của làng quê Việt. Một mái đình cổ kính rêu phong, một ngõ nhỏ ngoằn nghèo với những bức tường loang lổ, một hàng rào ôrô được tỉa tót kỹ càng… Tất cả làm nên một không gian rất riêng và rất hiếm.
Các cụ cao niên ở Tây Mỗ kể rằng: Đình làng được xây dựng trên một gò đất trông hình như con ngư long (cá hóa rồng) nằm nghiêng. Đến nay vẫn còn lưu truyền câu ca: “Đình trên lưng cá nằm nghiêng giữa làng/ Voi phục trước phượng hoàng chầu lại...”. Đình thờ thần Long Hải Đại Vương làm Thành hoàng làng. Bởi thế người làng Mỗ thường kiêng tên Long mà đọc chệch là Luông.
Từ bao đời nay, mái đình được coi là “trái tim” của làng bởi từ đây có 5 con đường gạch tỏa về 5 xóm. Đình cũng là nơi thờ cúng thiêng liêng và thường diễn ra các lễ hội, sinh hoạt của làng.
Chính từ những vẻ đẹp đậm nét hồn quê đó, làng Tây Mỗ trở thành một “phim trường” để các đạo diễn phim ảnh Việt Nam lấy cảnh quay cho những đề tài nông thôn. Từ những bộ phim nổi tiếng một thời như “Gió làng Kình”, “Cổng trường thời mở cửa”, “Thế giới nhiều cửa sổ”, “Ma làng”, “Cha và con”… cho tới những đoạn phim quảng cáo và những chương trình tuyền hình như “Góc cười”, “Gặp nhau cuối tuần”, “Gặp nhau cuối năm”… đều tìm đến với làng Tây Mỗ. Có nhiều năm rồi, làng Tây Mỗ thu hút được hàng trăm đoàn làm phim và khách từ xa đến với làng, đưa những hình ảnh giản dị, chân thực nhất về làng quê Bắc Bộ với nếp nhà, góc sân tới gần hơn với khán giả truyền hình. Những ngôi nhà cổ qua hàng chục đời người và hàng trăm năm tuổi, những người dân quê chất phác nhu mì đi vào trong phim và tự nhiên làng Tây Mỗ được gọi với cái tên rất Tây: “Làng Hollywood”.
Thế nhưng, đến giờ, mọi sự đã bắt đầu đổi khác. Từ giữa năm 2009, xã Tây Mỗ đã được “nhòm ngó” tới để trở thành một khu đô thị ven đô. Vèo một cái, văn bản được ký, đất đai bỗng chốc sốt giá, hàng trăm dự án công, tư xồng xộc đổ về làng. Tốc độ đô thị hóa nhanh đến chóng mặt, khiến những nét cổ kính của Tây Mỗ dần co dúm lại.
Dự án Khu đô thị mới Tây Mỗ - Đại Mỗ có quy mô tới gần 300ha nằm về phía tây nam thành phố là khu vực có cảnh quan đẹp, vị trí địa lý, vị trí phong thủy rất tốt. Người ta tha hồ cắt xẻo đi những cảnh đẹp thôn dã và nhanh chóng thay vào đó là những tường vôi, sắt thép. Tiếp theo, nhiều dự án đô thị hóa được rầm rộ tiến hành trong khi người dân không hiểu điều gì đang xảy ra. Kèm theo cơn hiệu ứng đô thị hóa, một số người đầu cơ tung tiền mua đất, đập phá nhà cổ, phá cảnh quan rêu phong xây nhà cao tầng. Con đường gạch vồ đỏ lịm bị đè lên bởi lớp bê tông trắng toát vô hồn. Cánh đồng lúa đã xuất hiện nhiều trên các phim ảnh cũng bị ngoạm mất không theo một quy chuẩn nào.
Làng Tây Mỗ có nguy cơ…
lên phố!
Cũng cần phải nhắc thêm rằng, ngoài cái tiếng là “làng điện ảnh”, Tây Mỗ cũng từng được coi là vựa lúa của thủ đô. Mảnh đất này bao đời đã chắt chiu ra những hạt gạo ngon nổi tiếng. Câu ca: “Nhất Mỗ, nhì La, thứ ba Canh Cót” nhằm ca ngợi người dân Tây Mỗ khéo trồng lúa, dệt vải giỏi nhất nhì đất Thăng Long xưa là vậy. Cũng từ ngọt thơm hạt gạo, ở làng có một lễ hội đặc sắc mang tên “Lễ rước xôi”, là nghi lễ tôn vinh, thờ phụng hạt gạo vào mỗi dịp năm mới.
 Cụ Nguyễn Thị Thái, 70 tuổi, nhà ở xóm Dộc nói rằng: “Người Tây Mỗ thờ hạt gạo! Hạt gạo do chính người làng mình làm ra. Lễ rước xôi của làng tôi đây là nghi lễ khởi đầu cho một năm mùa vụ, cầu mùa màng tươi tốt, thóc lúa bội thu và gia đình yên ấm. Bao năm rồi vẫn thế mà đến giờ thì…”.

Theo lời cụ Thái, mỗi năm dân làng sẽ chọn ra một gia đình đăng cai lễ hội, có tiêu chí kỹ lưỡng hẳn hoi. Được chọn phải là gia đình nền nếp, gương mẫu, con cái phương trưởng, cha mẹ song toàn. Xôi rước được đựng trong chum đồng đặt trên ba kiệu. Mỗi chum xôi nấu từ 30kg gạo nếp cái hoa vàng loại thượng hạng. Để có gạo ngon, từ trước tết, gia đình đăng cai và người làng đến giúp đã phải chọn gạo, sàng sảy tỉ mỉ trong suốt cả tuần. Lễ hội là nét văn hóa độc đáo riêng của Tây Mỗ, là dịp để người làng tưởng nhớ công ơn tổ tiên và giáo dục cho thế hệ trẻ biết nâng niu, quý trọng cây lúa và hạt gạo cũng như không được quên cội nguồn.
“Nhưng ruộng đã thành bê tông hết rồi, một mai hết gạo, lấy gì đồ xôi”, cụ Thái thở dài đánh thượt và hướng mắt về cánh đồng cũ.
Đó chắc chắn không phải là trăn trở của riêng cụ Thái mà còn của rất nhiều người dân Tây Mỗ. Đến cả Chủ tịch UBND xã Tây Mỗ Nguyễn Văn Giang cũng phải thốt lên: “Tây Mỗ sắp mất chữ “làng” rồi, anh ạ”.
Trong cơn lốc đô thị hóa đang rầm rập về làng thì vẫn còn có những người chậm rãi, kiên định gìn giữ nét xưa. Trong căn nhà cổ có đến hàng trăm năm tuổi, ông Nguyễn Văn Ninh, 64 tuổi kể cho chúng tôi nghe về những kỷ niệm của tuổi thơ ông đã gắn bó với căn nhà, với ngôi làng Tây Mỗ này. Sinh sống tại căn nhà này, tính đến ông Ninh đã là đời thứ 5, tính đến đời cháu ông là đời thứ 7.
Đã có vô số những tay trọc phú khắp nước đánh ôtô xuống “gạ” ông bán nhà với cái giá ngất ngưởng nhưng đều bị ông thẳng thừng khước từ. Ông tỉ mỉ chỉ cho chúng tôi xem trên những cây cột, hoành nhà rất nhiều câu đối, nét vẽ, chạm khắc tinh xảo đến từng chi tiết. Từ vườn cây xanh mướt mát tới giếng cổ bao năm rêu phong cổ kính có lẽ là thứ di sản rất riêng của gia đình ông.
 Làng Tây Mỗ hay rất nhiều ngôi làng cổ khác ở khắp miền đất nước đang hàng ngày, hàng giờ bị xóa tên. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa hay nói một cách mĩ miều là “thay da đổi thịt” làng quê là việc đương nhiên nên làm và phải làm. Rõ ràng, nó khác hẳn với việc đô thị hóa cả truyền thống văn hiến ngàn đời. Nhưng, để tách bạch được hai vấn đề này ra không phải là dễ. Phải chăng, đó là cái giá phải trả cho một quá trình phát triển và trách nhiệm của chúng ta làm cho cái giá phải trả là ít nhất?

 Vũ Minh Tiến
 

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN