Một góc nhìn về giáo dục & tự do học thuật

27/12/2017 - 11:28

 Chương trình học kỳ quân đội cho sinh viên – Nguồn Internet

Việt Nam hiện nay có hơn 315 trường đại học& cao đẳng. Nền giáo dục đại học của chúng ta ngày càng lạc hậu, vẫn còn một số trường chạy theo số lượng mà chưa chú trọng nhiều đếu chiều sâu và đầu ra cho nguồn nhân lực của đất nước. Trước xu hướng hội nhập & toàn cầu hóa, nước ta cần nhìn nhận và đầu tư đúng mực cho giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, giáo dục là nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế- xã hội toàn diện.

Tự do học thuật để đi tìm chân lý, phát triển tri thức mới

Không giống như giáo dục ở bậc phổ thông, mục tiêu của giáo dục đại học không dừng lại ở việc truyền tải tri thức có sẵn mà quan trọng là để đi tìm chân lý, phát triển tri thức mới. Để hiện thực hóa những mục tiêu này, cần đề cao đến vai trò của tự do học thuật. Theo Bách khoa toàn thư Britannica, tự do học thuật là “sự tự do của người dạy và người học trong việc dạy, học, tìm hiểu kiến thức và nghiên cứu mà không có sự can thiệp hay giới hạn vô lý của pháp luật, nội quy hay áp lực công cộng”.

 Giáo dục đại học cần hướng đến một nền tự do học thuật, giúp kích thích tư duy sáng tạo, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học, tạo tiền đề cho những thành tựu trong thực tiễn phát triển đất nước.

Tự do học thuật, trách nhiệm học thuật và dấu ấn nhà nước

Cũng như quyền tự do khác, tự do học thuật luôn đi đôi với trách nhiệm học thuật, trong đó quan trọng nhất là sự khách quan và trung thành với chân lý, sự tuân thủ các chuẩn mực về đạo đức và chuyên môn, sự tôn trọng quyền tự do học thuật của những thành viên khác trong cộng đồng học thuật và đối xử công bằng với các quan điểm học thuật khác biệt.

Sinh viên trong giờ thực hành – Nguồn: Đại học Đà Nẵng

 Việc thực hiện quyền tự do học thuật phụ thuộc rất nhiều vào ý chí và chính sách, định hướng giáo dục của đất nước. Những quốc gia nào không có tự do học thuật thường quản lý đất nước bằng cách gieo rắc nỗi sợ hãi trong xã hội và giới hàn lâm. Điều này sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế, không huy động được sức mạnh của giới trí thức. Ngày nay, ở những đất nước phát triển, tiến bộ, quyền tự do học thuật được nhà nước bảo vệ vì nó là nền tảng thiết yếu để phát triển tri thức và phụng sự xã hội, và đó cũng là nền tảng quan trọng để tiến tới quyền dân chủ và văn minh. Ở các nước này, chính quyền kiềm chế can thiệp vào quyền tự chủ đại học và tự do học thuật vì họ biết rằng tri thức là nền tảng của sức mạnh quốc gia, đồng thời họ có niềm tin vào bản chất lành mạnh, năng lực tự quản và tự sửa sai từ cộng đồng học thuật.

Cần nhiều cải cách về tự do học thuật tại Việt Nam

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng các ngành khoa học xã hội và nhân văn tại Việt Nam hiện đã lạc hậu, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển chung của đất nước. Nếu như trước đây, thời phong kiến, mục đích chủ yếu của việc đi học là để đỗ đạt ra làm quan, trở thành tôi trung, thì hiện nay mục đích của không ít người là học ĐH để có tấm bằng tìm việc làm, giữ được chỗ làm ổn định và vươn tới vị trí cao hơn. Với các trường ĐH tư thục, mà ở Việt Nam vốn được tổ chức và quản trị như những công ty cổ phần thì phần lớn các hội đồng quản trị luôn nghĩ đến tối đa hóa lợi nhuận, các mục tiêu khác như tự do học thuật được xem là thứ yếu. Chương trình đào tạo ĐH hiện nay còn nhiều gò bó. Việc áp đặt chương trình khung cùng với thủ tục xin phép mở ngành mới phiền phức khiến cho các trường ĐH trên thực tế không có nhiều “tự do” trong việc thiết kế chương trình và nội dung đào tạo. Nguồn tài chính trang trải cho đào tạo đại học vốn đã eo hẹp nên phần dành tự do học thuật càng ít ỏi và èo uột. Vì hầu hết các trường ĐH phụ thuộc vào chỉ tiêu tuyển sinh để cải thiện thu nhập nên sinh ra động cơ tuân thủ thay vì đổi mới. Hơn nữa, với nguồn tài chính hạn chế, các trường ĐH Việt Nam khó tuyển được những giảng viên và nhà quản lý ĐH xuất sắc- những người quyết định chất lượng dạy và học của trường ĐH. Việc thiếu vắng tài năng vừa kìm hãm sinh khí của các trường ĐH vừa hạn chế nhu cầu và khả năng theo đuổi tự do học thuật của các trường ĐH Việt Nam.

ảnh minh họa: Sinh viên trong giờ thực hành – Nguồn: Internet

Đổi mới giáo dục đào tạo và sự cần thiết của tự do học thuật

Nền giáo dục Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải đề cao hơn nữa tự do học thuật, không chỉ để giúp nền kinh tế trở nên năng động, sáng tạo, có năng lực cạnh tranh hơn trong nền kinh tế trí thức toàn cầu ngày nay mà còn tạo ra nền tảng và sinh lực trí tuệ vững chắc giúp bảo vệ độc lập và chủ quyền quốc gia.

 Thực tế là mọi chỉ số của nền giáo dục đại học Việt Nam đều kém khá xa so với Thái Lan, Malayxia chứ chưa nói đến các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến khác như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Mỹ... Do vậy, giáo dục Việt Nam nói chung, giáo dục đại học nói riêng cần nghiên cứu và ứng dụng những ưu điểm của nền giáo dục thế giới. Tự do học thuật cần được đảm bảo mạnh mẽ nhất ở giáo dục đại học. Các trường đại học, dù là công hay tư, chỉ có thể chen chân vào các thứ hạng cao ở các bảng xếp hạng, nếu được tự chủ thực sự về nhiều mặt. Để làm được điều này cần đến những yếu tố quan trọng của tự chủ đại học, đó là sự tự chủ trong việc dạy và học, nghiên cứu và truyền bá tri thức.

Cần có sự chung tay của các cơ quan chuyên trách và cộng đồng giáo dục, và cả sinh viên trong công cuộc cải cách giáo dục đại học để hướng đến một nền giáo dục đại học hoàn chỉnh, chuyên nghiệp, đạt chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu xã hội trong hội nhập toàn cầu.

ThS Trần Ngọc Cảnh, Khoa KHXH&NV, Trường Đại học Trần Đại Nghĩa

ThS Đặng Công Thành, Khoa tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

 Theo/ Tạp chí Lao động Bình Dương

 

 

 

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN