Nguồn gốc bốn tiếng "vườn hoa Ba Đình"

13/09/2015 - 12:07


Giáo sư Lê Văn Lan (trái) ) trao đổi với tác giả về tên gọi Vườn hoa Ba Đình.

1. Tôi đem thắc mắc này xin thỉnh giáo Giáo sư Lê Văn Lan trong một lần gặp ông đến Bộ Tư lệnh Hải quân (Hải Phòng). Bên bàn trà nóng ở nhà khách Hải Thành, Giáo sư Lan bảo: “Ngay đến người Hà Nội gốc cũng hiểu không tường tận hoặc hiểu không đúng về Ba Đình, mặc dù nó đậm ý lịch sử và xuất hiện ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 tại Hà Nội”.
Theo Giáo sư Lê Văn Lan, tên Ba Đình là địa danh xã Ba Đình ngày nay của huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Ba Đình gắn liền với cuộc Khởi nghĩa Ba Đình do Đinh Công Tráng cầm quân trong hai năm 1886-1887 dưới thời Cần Vương chống thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX. Trước khi phiên hiệu “xã Ba Đình” ra đời, ở vùng đồng chiêm trũng ngày ấy có ba làng Mỹ Khê, Hương Thọ và Mậu Thịnh, với đông đúc người dân sinh sống tại đây. Mỗi làng có một ngôi đình, được xây ở vị trí tiện lợi quan sát, không có vật chắn phía trước. Đứng từ đình của làng Mỹ Khê có thể bao quát được bốn hướng và dứt khoát phải nhìn thấy ngôi đình của làng Hương Thọ và Mậu Thịnh. Quanh địa thế của ba ngôi đình lúc đó là vùng lầy chiêm trũng, vì vậy mỗi năm mùa mưa đến, mỗi ngôi đình như một ốc đảo nhỏ giữa mênh mông đồng nước. Đến được đình, ngoài đi theo con đường độc đạo thì không có con đường nào khác.
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp ồ ạt xâm lược nước ta trên diện rộng. Nhân dân tỉnh Thanh Hóa lúc đó nói chung và dân nghèo huyện Trung Sơn (nay là huyện Nga Sơn), trong đó có người dân ở ba làng Mỹ Khê, Hương Thọ và Mậu Thịnh vùng dậy đấu tranh chống Pháp. Nổi bật cuộc đấu tranh thời ấy là Phong trào Cần Vương. Trước sự đàn áp bóc lột của thực dân Pháp, các thủ lĩnh như Phạm Bành, Đinh Công Tráng đã họp các tướng lĩnh, trình bày kế hoạch xây dựng căn cứ Ba Đình. Các ông đã kêu gọi người dân góp tre, rơm rạ để xây dựng căn cứ công sự. Nhân dân thấy yên lòng hiếu nghĩa vì nước của nghĩa quân Đinh Công Tráng, người dân ở ba làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thịnh đã nhường lại nhà cửa, vườn tược, chuyển đi ở nơi khác để nghĩa quân xây dựng căn cứ. Nhờ tinh thần yêu nước và sự đóng góp to lớn của nhân dân, chỉ trong vòng một tháng, căn cứ Ba Đình đã được xây dựng thành một cụm cứ điểm chiến đấu hết sức kiên cố sẵn sàng chống Pháp. Và cũng chính từ căn cứ này, nhiều nghĩa sĩ, người dân đã chiến đấu anh dũng và hi sinh tại đây, trong đó có anh hùng Đinh Công Tráng.
Tháng 7 năm 1945, Hà Nội tiến hành đổi tên một số đường, trong đó có “chỉ thị” đổi một số tên đường có chữ tây thành tên đường mang chữ ta, trong đó vườn hoa Puginier trước Phủ Toàn quyền được đổi tên thành Vườn hoa Ba Đình. Người đổi tên các tuyến đường lúc bấy giờ là Bác sĩ Trần Văn Lai, ông là người Việt Nam đầu tiên giữ chức danh Thị trưởng Hà Nội lúc đó.
 Dưới thời Pháp thuộc, trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, địa danh nơi đây chỉ là một khu gồm những bãi đất hoang và hồ ao rộng tới hàng chục hecta cạnh Phủ Toàn quyền Pháp. Phủ Toàn quyền Pháp lúc đó có tên là Quảng trường Tròn (Rond point Puginier) hay còn gọi là Quảng trường Puginier (tên của một Linh mục người Pháp). Một thời gian dài, Quảng trường Tròn đã được các kiến trúc sư người Pháp là Hebrat và Cerruti đưa ra các quy hoạch tổng thể và cải tạo lại Quảng trường này. Giải thích về tại sao phải đổi tên đường, Giáo sư Lê Văn Lan cho biết: “Hầu hết các tên đường lúc đó ở Hà Nội đều tây hóa, nghĩa là đặt theo tiếng Pháp, do người Pháp đặt. Ví dụ Phủ Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch) đặt là Merlin, mang đậm chất lịch sử văn hóa Pháp, trong khi đó, những người yêu nước, người có công, nghĩa sĩ của ta thì không được vinh danh. Vì vậy việc đặt tên đường, tên phố ở Hà Nội lúc đó là một cải cách có ý nghĩa và tiếng vang lớn”. 
Sau khi bác sĩ Trần Văn Lai qua đời, ngày 30/8/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời bác sĩ Trần Duy Hưng làm thị trưởng Hà Nội. Một trong những công việc mà cụ Trần Duy Hưng được giao nhiệm vụ lúc đó là tiếp tục công việc cụ Trần Văn Lai đã làm. Tức là xây dựng dự án và ra quyết định duyệt y việc đổi tên và đặt tên toàn bộ các đường phố và công trình công cộng của Thủ đô Hà Nội theo nguyên tắc xóa bỏ tàn tích thực dân, tôn vinh các chiến công và danh nhân Việt Nam, bảo tồn các địa danh truyền thống trong đó có tên của các phố, phường trong khu phố cổ và tiếp thu có điều chỉnh những quyết định của người đi trước mình.
2. Trước ngày 2/9/1945, Vườn Hoa Ba Đình đã thành địa điểm lịch sử khi được chọn để xây dựng lễ đài. Lễ đài ấy, ngay trên cổ có bồn hoa cỏ hình tròn, có vòng xuyến rộng rãi. Đây chính là nơi hội tụ nửa triệu người lúc đó làm lễ “Thề độc lập. Và tại đây, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên Ngôn độc lập bất hủ, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, công bố Chính phủ Việt Nam lâm thời ra mắt trước quốc dân đồng bào.
Vườn hoa Ba Đình lúc đó là nơi “Lễ trường hàng ngày” của người dân Hà Nội, và sau sự kiện “Thề độc lập” tại đó, Ủy ban hành chính Hà Nội đã quyết định đổi tên chính thức Vườn hoa Ba Đình thành Vườn hoa Độc Lập. Đến thời gian thực dân Pháp trở lại tạm chiếm Hà Nội (1947-1954), Thị trưởng Hà Nội là dược sĩ Thẩm Hoàng Tín đã đổi tên Vườn hoa Độc lập thành Vườn hoa Hồng Bàng. Dược sĩ Thẩm Hoàng cho rằng, đổi như vậy cho xứng  hợp với tên con đường Hùng Vương chạy dọc hướng Bắc-Nam kéo dài từ Hồ Tây qua. Mãi đến sau ngày giải phóng Thủ đô (10/10/1954), bộ tuyên truyên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mới ra quyết định đổi tên gọi lại Vườn hoa Hồng Bàng thành Vườn hoa Ba Đình như trước đây, và bảo lưu địa danh nơi Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn độc lập. 

Bài, ảnh: MẠNH TUẤN
 

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN