Những điều cần biết về làm thêm giờ

16/11/2020 - 09:56

Quy định về lương làm thêm giờ

Tại Điều 98 Bộ luật Lao động 2019 quy định, người lao động (NLĐ) làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau:
- Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%. Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%. Làm thêm giờ vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày. Trường hợp NLĐ làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường, ngoài ra còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết. Ví dụ: Anh A có đơn giá tiền lương bình thường 01 ngày (8 tiếng) là 800.000 đồng (100.000 đồng/tiếng). Thời gian làm việc từ 08h đến 17h (nghỉ trưa 01 tiếng). Ngày thứ hai anh A được yêu cầu ở lại làm thêm 01 tiếng vào buổi đêm từ 22h đến 23h. Tiền lương làm thêm 01 tiếng của anh được tính là: 150% x 100.000 + 20% x 100.000 = 170.000 đồng. NLĐ làm thêm giờ vào ban đêm của ngày nghỉ lễ, Tết sẽ được hưởng ít nhất bằng 300% ngày bình thường và 100% lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với NLĐ hưởng lương ngày. Đặc biệt, trường hợp NLĐ làm thêm vào ban đêm của ngày Tết Âm lịch 2021, sẽ được hưởng ít nhất 300% lương ngày bình thường (chưa kể lương ngày Tết đó nếu NLĐ lãnh lương theo ngày), được trả thêm ít nhất 30% lương ngày bình thường và trả thêm ít nhất 20% lương ngày Tết.

Quy định về làm thêm giờ 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 112 Bộ luật Lao động 2019 (sẽ có hiệu lực ngày 01/01/2021), NLĐ được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết sau đây: Tết Dương lịch: 01 ngày (ngày 01 tháng 01 Dương lịch). Tết Âm lịch: 05 ngày. Ngày 30 tháng 4 dương: 01 ngày. Ngày Quốc tế Lao động: 01 ngày. Quốc khánh: 02. Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương: 01 ngày. 

Điều 107 Bộ luật Lao động quy định, người sử dụng lao động được sử dụng NLĐ làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các yêu cầu sau: Phải được sự đồng ý của NLĐ. Bảo đảm số giờ làm thêm của NLĐ không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 40 giờ trong 01 tháng. Bảo đảm số giờ làm thêm của NLĐ không quá 200 giờ trong 01 năm. Trừ một số trường hợp sau, doanh nghiệp được sử dụng NLĐ làm thêm trên 200 giờ nhưng không quá 300 giờ trong 01 năm: Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản. Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước. Trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời. Trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách quan không dự liệu trước, do hậu quả thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyên sản xuất. Trường hợp khác do Chính phủ quy định. Điều 108 Bộ luật Lao động 2019 quy định, người sử dụng lao động có quyền yêu cầu NLĐ làm thêm giờ vào bất kỳ ngày nào mà không bị giới hạn về số giờ làm thêm và NLĐ không được từ chối 01 trong 02 trường hợp sau: Thực hiện lệnh động viên, huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật. Thực hiện các công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm và thảm họa, trừ trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của NLĐ theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
4 trường hợp không được sử dụng người lao động làm thêm giờ: Quy định lần lượt tại khoản 1 Điều 137, khoản 1 và 2 Điều 146, khoản 1 Điều 160 Bộ luật Lao động 2019: Người mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Người đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp được NLĐ đồng ý. Người chưa đủ 15 tuổi, riêng người từ 15 đến dưới 18 tuổi chỉ được làm thêm giờ với một số nghề, công việc theo danh mục do Bộ trưởng Bộ LĐ- TB& XH ban hành. Người khuyết tật nhẹ suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên, khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, trừ trường hợp được NLĐ đồng ý.

Hoàng Chương- Nguồn (LuatVietnam.vn)

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN