Sách “Việt Nam phong tục” viết về Tết Nguyên đán 

24/01/2020 - 18:46

(LĐBD) - Trong cuốn “Việt Nam phong tục”, Học giả Phan Kế Bính (1875-1921) khẳng định: “Tục gì hay mà là quốc túy của ta thì cứ giữ lấy”. Người Việt có 10 cái Tết trong một năm.

1/ Tết Nguyên đán

10 cái Tết trong một năm theo sách của Học giả Phan Kế Bính gồm: Tết Nguyên đán, Tết Hàn thực (mồng ba tháng ba), Tết Thanh minh, Tết Đoan ngọ, Tết Trung nguyên (Rằm tháng Bảy), Tết Trung thu, Tết Trùng cửu (mồng chín tháng chín), Tết Trùng thập (mồng mười tháng Mười), Tết Táo quân, và Tết Trừ tịch (ba mươi tháng Chạp). ..

Học giả Phan Kế Bính đã miêu tả, giải thích về những tập tục ngày Tết Nguyên đán như sau: Mồng một đầu năm là Tết Nguyên đán. Tết này ăn to hơn cả các Tết trong một năm. Trước nửa tháng Tết, nhà nào nhà ấy đã rộn rịp sắm Tết, nào người mua tranh, mua pháo, nào người mua vàng hương mã mùng, đường mứt bánh trái... Các thầy đồ nhà quê ra chợ viết câu đối bán. Các người đi buôn bán hoặc đi làm ăn xa xôi, đâu cũng nghỉ việc để về nhà ăn Tết.

Cách Tết một vài hôm, ai nấy dọn dẹp nhà cửa, lau rửa đồ thờ phượng. Câu đối đỏ dán cửa, dán cột sáng choang, treo tranh treo liễn trang hoàng lịch sự. Nhiều nhà trước cửa có dán tranh quan tướng, hoặc dán bốn chữ "Thần trà Uất Lũy", cai quản đàn ma quỷ. Hễ quỷ nào làm hại nhân gian thì thần ấy giết mà ăn thịt. Ta dùng bốn chữ ấy, có ý để cho quỷ sợ mà không dám vào cửa. Lại có nhiều nơi đặt tre dựng cây nêu, kết ba cái lạt ra, buộc một bó vàng. Hoặc lấy cành đa lá dứa cài ngoài cửa ngõ. Hoặc là rắc vôi bột trong sân ngoài ngõ, vẽ bàn cờ, cái cung, cái nỏ...

Sáng mồng một Tết thì làm cỗ cúng gia tiên, và cúng cả thổ công, táo quân, nghệ sư,... cỗ bàn to nhỏ thế nào cũng được, nhưng làm sao phải có bánh chưng, cá kho, giò, chả, dưa hành, thịt bò.. mới ra cỗ ngày Tết. Có nhà dựng hai cây mía cạnh bàn thờ để làm gậy cho ông vải.

Hôm ấy ăn nói phải giữ gìn, sợ nói bậy thì giông đi cả năm. Nhiều nhà nhờ một người phúc hậu dễ tính, sáng sớm đến xông đất, để cho cả năm được bán đắt, buôn may. Quét tước trong nhà phải kiêng không dám hốt rác đổ đi, chỉ vun vào một xó, đợi ba hôm động thổ rồi mới đem đổ. Tục này do ở trong Sưu thần ký có có chuyện người lái buôn tên là Âu Minh đi qua hồ Thanh Thảo. Thủy thần cho một con hầu tên là Như Nguyện, đem về nhà được vài năm thì giàu to. Đến sau, một hôm nhân ngày mồng một Tết, đánh nó, nó chui vào đống rác mà biến mất, từ đấy nhà chàng kia lại nghèo đi. Bởi thế ta theo tục Tàu, kiêng không dám hốt rác.

Cúng gia tiên xong thì con cháu ra mừng tuổi ông bà cha mẹ, lạy hai lạy. Ông bà cha mẹ mừng cho con cháu, mỗi đứa một vài xu hoặc một vài hào, gọi là tiền mừng tuổi. Anh em, họ hàng, người quen thuộc, đến lẫn nhà nhau lạy gia tiên, chúc mừng cho nhau những câu: thăng quan, tiến tước, sinh năm đẻ bảy, vạn sự như ý, buôn bán phát tài,...Trong khi anh em đến chơi với nhau, uống chơi chén rượu sen, rượu cúc, hoặc chén nước chè tàu, chè sen, hút điếu thuốc lào, hoặc uống rượu sâm banh, rượu sạc tời, rượu mùi, nhằn vài ba hạt dưa, ăn vài miếng mứt…..

 

Các nhà con thứ, cha mẹ còn thì đem biếu thức nọ thức kia. Cha mẹ mất rồi thì hôm mồng hai Tết, phải làm cỗ đem đến nhà con trưởng cúng cha mẹ. Người nghèo thì đem trầu cau vàng (giấy vàng mã- PV) hương đến lễ cũng được.

Ngày mồng ba cũng như ngày mồng hai. Đến ngày mồng bốn thì hóa vàng. Ngày ấy xấu hay là chạm phải ngày tuổi chủ nhà thì hóa trước sau một ngày cũng được, có nhà để đến mồng bảy mới hóa vàng, gọi là ngày cúng tiễn ông vải. Hôm ấy con cháu họp đông đủ mà ăn uống vui vầy với nhau.

Trong mấy hôm Tết, ngày nào cũng đốt pháo. Điển đốt pháo do ở Kinh sở tuế thời ký có nói rằng: Sơn tiêu (ma núi) phạm vào người thì người sinh đau ốm, nó chỉ sợ tiếng pháo, hễ đốt pháo thì nó không dám đến. Nhưng tục ta thì cho tiếng pháo là tiếng vui mừng chứ không có ý để trừ quỷ. Đến ngày mồng hai Tết giở đi, người thì chọn ngày xuất hành, người thì hái cành hoa về cài vào cửa, gọi là đi hái lộc, người làm quan thì chọn ngày khai ấn, học trò thì chọn ngày khai bút, nhà buôn bán thì chọn ngày mở cửa hàng, nhà quê thì chọn ngày làm lễ động thổ. …

Suốt một tháng Giêng, già trẻ trai gái, kẻ chợ nhà quê, quần điều áo thắm, kẻ thì lễ bái chùa này miếu nọ, người thì du ngoạn cảnh nọ cảnh kia, chỗ thì hoa thủy tiên, chỗ thì hoa đăng, chỗ thì hội hè hát xướng. Các người nhàn, năm ba người tụ lại đánh bài đánh bạc. Ngoài ngã ba ngã bảy, đám thì quay đất, đám thì lúc lắc thò lò, tổng chi gọi là cách thưởng xuân.

Rõ là so với cuốn sách trên của Học giả Phan Kế Bính thì nay 10 cái Tết trên, một số cái Tết gần như đã phai nhạt trong lòng người Việt. Và Tết Nguyên đán vẫn đang là cái Tết được chờ đợi nhất trong năm, quan trọng nhất trong năm, là một quốc túy “hay” được người Việt giữ lại.

Xin lộc chùa

Còn so lại những lễ nghi, đã có rất nhiều lễ nghi, quan niệm…của ngày Tết Nguyên đán xưa nay đã dần mai một, bị (được) bỏ đi, nhưng nhiều lễ nghi quan niệm ngày nay người Việt vẫn giữ như: Ngày Tết là ngày xum họp đoàn viên, dù ai đi xa mấy cũng nên cố về nhà với cha mẹ, bà con. Nghi lễ cúng Giao thừa, kiêng quét nhà, mừng tuổi (lixi), chúc nhau những điều tốt đẹp nhất, ngày Tết kiêng cãi nhau, ngày Tết là phải được ăn ngon nhất, uống ít nhiều rượu…Ngày tết nhà nào cũng trang hoàng dọn dẹp nhà cửa sạch đẹp, mặc quần áo mới- đẹp. Qua Tết chọn ngày tốt để thực hiện việc quan trọng (tục động thổ) nay còn nhiều người giữ…Đầu năm chọn người tốt- vui vẻ trung thực hoặc trẻ con vô tư …“đạp đất” nhiều người còn giữ…

Đã có rất nhiều quan niệm, lễ bái, phong tục đến nay dù mới chỉ khoảng 100 năm khi Phan Kế Bính viết cuốn sách trên đã bị bỏ bớt. Thấy rõ nhất là tục đốt pháo nổ đùng đùng đã bị pháp luật cấm hẳn đã cũng gần 20 năm. Đến nay chỉ giữ lại tục đốt pháo hoa đêm giao thừa, mà cũng chỉ chính quyền mới thực hiện trong khoảng 10- 15 phút do rất tốn kém.

Tục đánh bài cũng đã bị bỏ vì “cờ bạc là bác thằng bần”, là tục xấu. Nay cũng chỉ còn kiểu đánh bài, xóc bầu cua lẻ tẻ trong xóm, trong nhà để giải trí… còn chơi mà mang tính ăn thua nhiều tiền là không tốt, mất hòa khí và vi phạm pháp luật.  

Phong tục “tháng giêng là tháng ăn chơi” cũng là phong tục nhiều người phê phán, bởi nghỉ tết chỉ 4- 6 ngày là phải đi làm rồi. Có còn chăng là đối với người lớn tuổi, người về hưu, người giàu có .. vào tháng giêng rủ nhau đi đền chùa miếu mạo, du lịch.. mà thôi. Ngày nay nhà nước rất nghiêm cấm đối với các cơ quan công quyền tổ chức đi chơi vào tháng giêng vì mất thời gian, nhất là dùng xe công, làm phát sinh nhiều tệ nạn chen lấn giành giật “lộc” phản cảm, thiếu văn hóa…

Tục đốt vàng mã cũng đang vận động bỏ, cũng nhiều nhà còn giữ nhưng chỉ đốt rất ít theo cách “xưa bày nay làm” tiễn ông Táo về trời, rước ông bà về nhà ăn Tết với con cháu và tiễn ông bà đi vì tục rất mất vệ sinh, tốn kém, ô nhiễm môi trường.

2/ Giao thừa

Đêm Giao thừa là một đêm có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với một năm. Học giả Phan Kế Bính  trong Việt Nam phong tục, viết: Tục ta tin rằng mỗi năm có một ông hành khiển coi việc nhân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế để tiễn ông cũ và đón ông mới. Nửa đêm hôm ba mươi rạng ngày mồng một, nhà nào cũng bày hương án ra giữa sân để cúng giao thừa. Ở thôn quê thì các xóm tế giao thừa tại nơi điếm sở, trống đánh, pháo đốt ầm ầm. Học giả Phan Kế Bính viết: Cúng tế cốt ở tâm thành và lễ cúng vào giữa nửa đêm nên đượm vẻ thần bí trang nghiêm. Cựu vương hành khiển bàn giao công việc cho tân vương thay đức Ngọc Hoàng để coi sóc nhân gian trong một năm cho đến giờ phút giao thừa sang năm.

Ngày 30 tháng Chạp còn là ngày trừ tịch, nghĩa là trừ hết năm cũ để sang năm mới. Ngoài ra, còn có nghĩa là trừ khử ma quỷ. Lễ trừ tịch bao hàm một ý nghĩa trọng đại tống cựu nghinh tân nên lễ được cử hành rất trịnh trọng từ tư gia tới các đình chùa".

Nhất Thanh trong Đất lề quê thói - Phong tục Việt Nam nhận định 12 vị Hành khiển thay phiên nhau trông coi nhân gian trong một năm có ông thiện, ông ác. Có năm trời gặp nhiều thiên tai, hạn hán, lụt lội, mất mùa, đói kém, hay dịch tễ chết hại, là do sớ tấu của Hành khiển, trừng phạt vua quan không có nhân chính hay dân ăn ở ngang ngược, trái đạo lý. Lễ trừ tịch tiễn và đón các vị Hành khiển cùng phụ tá là Phán quan của năm cũ và năm mới, đồng thời cầu cúng cả Bản cảnh Thành hoàng và Thổ địa Thần kỳ.

Lễ Giao thừa được cúng vào đúng giờ chính tý tức 00 giờ ngày 1 tháng 1 đầu năm theo âm lịch.  Theo phong tục của dân tộc Việt Nam từ cổ xưa: Bàn cúng Giao thừa, một mâm cúng gia tiên tại bàn thờ ở trong nhà và một mâm cúng thiên địa ở khoảng sân trước nhà. Gia chủ làm lễ cúng bái cầu chúc cho một năm mới tốt lành bằng cách thắp hương từ ngoài trời sau đó khấn vái và thắp vào trong nhà để mang may mắn đến. Trong lễ này tại gia đình, người ta nhắc đến công ơn trời đất, tổ tiên, tạ lỗi cùng cha mẹ, làm hòa với nhau, trút bỏ điều xấu và hứa hẹn những điều tốt đẹp sẽ thực hiện. Ý nghĩa của lễ này là đem bỏ đi hết những điều xấu dở cũ kỹ của năm cũ sắp qua để đón những cái mới mẻ tốt đẹp của năm mới sắp tới. Xưa kia người ta cúng Giao thừa ở đình, ông Tiên chỉ hoặc thủ từ đứng làm chủ lễ, nhưng người ta cũng cúng Giao thừa ở thôn xóm nữa.

Ngoài ra, sách xưa còn cho biết, giờ phút giao thừa- vừa qua năm mới người dân đi lễ chùa, lễ đền miếu để cầu xin Phật Thánh phù hộ độ trì cho bản thân và gia đình suốt năm bình an, thịnh vượng, mọi việc như ý. Khi đi lễ cầu phúc đầu năm, người dân không mang lễ vật vàng hương như ngày thường. Đến nơi cầu phúc, lễ vật có bán sẵn, chỉ cần mua hương thắp khấn đầu vài và khấn cầu. Sau đó, nhiều người mang theo về vài ba nén hương gọi là hương lộc đem cắm vào bát hương Táo quân ở nhà…Lửa đỏ ở mấy nén hương là lộc Phật Thánh ban với biểu tượng cho hồng vận, đem đến sự thịnh vượng.

Khi đi lễ cầu phúc, nhiều người không xin hương lộc. Thay vào đó, sau khi lễ xong, họ ra sân vườn chùa, miếu bẻ lấy một cành lá, tục gọi là hái lộc, mang về giắt dưới mái nhà gian giữa trước bàn thờ gia tiên. Tục hái lộc có ý nghĩa mang tài lộc về nhà, cành lá xanh tốt lại còn khiến còn có ý nghĩa vui tươi. Có người dân phải đợi sáng . ó người đi viếng mộ ông bà tổ tiên…mùng 1 làm cỗ cúng gia tiên rồi mới đi lễ chùa, lễ đền miếu xin lộc..

Ngày nay, lễ cúng giao thừa nay vẫn còn được hầu hết các gia đình giữ lại, tuy  mâm cúng- lễ vật  đã lược bớt tùy theo suy nghĩ, theo điều kiện mỗi nhà. Phút giao thừa chính quyền bắn pháo hoa, lãnh đạo cao nhất của đất nước chúc mừng năm mới toàn dân. Ngày nay, Lễ cúng giao thừa thường bày lễ vật như hương vàng, trầu, rượu, hoa quả, xôi gà…Có nhà cúng chay (không động vật), có nhà có gì cúng nấy. Thường cúng ở ngoài sân và mở cổng- mở cửa với ý mời ông bà vào nhà. Và có đốt nến, đốt đèn, nhiều nhà còn cúng giấy tờ vàng mã nhưng hầu hết là rất ít để bảo vệ môi trường và không tốn kém tiền bạc không đáng (khói, tro…) Nhiều gia đình thường cúng lễ Giao thừa đơn giản hơn với chiếc bàn nhỏ, ghế đẩu hoặc thùng gỗ... Hương thắp lên được cắm vào một chiếc ly đầy gạo hoặc vào một chiếc lọ nhỏ để giữ chân hương…

Dù giản dị hay cầu kỳ thì trên hết là phải giữ sự trang nghiêm, sạch sẽ,thành kính, không nên luộm thuộm …Nhiều người không có ý thức rõ rệt về lễ trừ tịch, họ chỉ biết thành tâm cúng lễ, vái tứ phương chứ không biết là khấn cụ thể Đương niên, Bản cảnh Thành hoàng, Thổ địa Thần kỳ …

Ngày nay, phong tục đi lễ chùa, hái lộc vẫn còn nhiều người giữ. Có người vừa qua phút giao thừa là đi chùa- rì rầm xôn xao trong đêm. Có người sang mồng một mới đi chùa, đi viếng mộ tổ tiên

Tết là những ngày  nghỉ ngơi, quan trọng, hạnh phúc nhất trong năm

3/ Kiêng kỵ

Trong cuốn "Việt Nam phong tục", Phan Kế Bính đã liệt kê những điều kiêng kỵ rất phổ biến của người Việt, cho đến nay một số điều vẫn tồn tại. Có thể nói những điều kiêng kỵ dù không có cơ sở khoa học, nhưng lại phản ánh phần nào niềm tin của người dân từ xa xưa. 

1. Đầu năm mới và sáng mùng 1 đầu tháng kiêng đòi nợ, sợ rông cả năm hoặc cả tháng.

2. Sáng sớm kiêng văng tục, sợ rông cả ngày.

3. Ba tháng hè kiêng cưới xin, sợ không hay.

4. Năm cùng tháng tận kiêng làm cửa làm nhà và các việc vui mừng, sợ không hay.

5. Việc vui mừng, việc tế tự kiêng mặc đồ trắng, e thất kính.

6. Nhà có tang kiêng dùng đồ đỏ, e trái lễ.

7. Đàn bà chửa con so không hái quả trên cây, e quá sinh mất.

8. Đàn bà chửa kiêng gần tử thi, và kiêng dự đám tang, e độc.

9. Vợ chửa, chồng kiêng sát sinh và kiêng đóng cọc, e độc.

10. Người mới đẻ, kiêng không cho người ngoài giắt tiền vào phòng, sợ trẻ giật mình.

11. Đàn bà lạ chửa, kiêng không cho đẻ trong nhà, e độc.

12. Người sống kiêng mặc áo thừa và nằm giường người chết.

13. Người làng khác chết, kiêng không cho đưa ma qua làng.

14. Cha mẹ kiêng đưa con gái về nhà chồng, e người ta chê cười.

15. Vợ chồng kiêng không rửa chung một khăn mặt.

16. Con cháu kiêng đặt tên giống tên ông bà, cha mẹ, e thất kính.

17. Trẻ con kiêng khen tốt đẹp béo đẫy.

18. Trẻ con kiêng đội nón trong nhà, e lùn.

19. Trẻ đi học, kiêng ăn cơm cháy, sợ tối dạ và kiêng ăn chân gà, sợ viết run tay,

20. Buôn bán kiêng nói con khỉ, con tiều, con hùm, con beo, sợ ế hàng.

21. Làm cửa ngõ kiêng đối ngõ với nhà khác, sợ độc.

22. Giường chiếu trong nhà kiêng dựng ngược, sợ sái.

23. Ở nhà kiêng ngồi giữa bậc cửa, e thất lễ.

24. Ra ngõ kiêng gặp gái, e bất lợi.

Nay hầu hết những điều kiêng kỵ trên đã bỏ- nhiều lễ nghi ngày Tết rườm rà phiền phức, hay là có hại cũng đã bỏ bớt. Vạn vật vận hành kỳ ảo. Câu nói của Phan Kế Bính dù đã hơn 100 năm nay vẫn nguyên giá trị: “Tục gì hay mà là quốc túy của ta thì cứ giữ lấy”. Nghĩ về Tết Nguyên đán nay có nhiều cách nghĩ- có học giả đang vận động nên bỏ ăn tết Nguyên đán với cái lý cũng không phải là sai, mà Học giả Võ Tòng Xuân là một ví dụ.

Box: Phan Kế Bính (1875 - 1921) hiệu là Bưu Văn, là nhà văn, dịch giả, nhà nghiên cứu nổi tiếng của Việt Nam đầu thế kỷ 20. Ông sinh ra tại làng Thụy Khê, huyện Hoàng Long, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phố Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội) trong một gia đình khoa cử. Năm 1907, ông bắt đầu viết báo, dịch thuật, biên tập và phụ trách chuyên mục cho các tờ báo: Đăng cổ tùng báo, Lục tỉnh tân văn, Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn... Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Việt Nam phong tục, một công trình nghiên cứu công phu những phong tục tập quán từ bao đời nay của dân tộc. Trong tác phẩm Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính không chỉ mô tả từng tập tục, mà còn lần về gốc tích, nguyên ủy cái tục ấy, nhìn nhận, đánh giá để xem nó hay hay dở, từ đó "xét điều gì quá tệ mà bỏ bớt đi, rồi lâu lâu mới đem cái tục hay mà bổ hết cho cái tục dở. Còn tục gì hay mà là quốc túy của ta thì cứ giữ lấy". Đến nay, tập sách gần 100 tuổi này vẫn là một trong những công trình khảo cứu có giá trị bậc nhất về các phong tục tập quán trên đất nước ta và nhiều vấn đề được Phan Kế Bính nhắc đến vẫn nóng hổi tính thời đại.

Phan Kế Bính là một nhà nho uyên bác mang tư tưởng tân tiến, ông là một trong những nhà nho đầu tiên có công dùng chữ quốc ngữ để nghiên cứu, dịch thuật, giới thiệu nền văn hóa, văn học cổ cận đại Việt Nam và Trung Quốc cho thế hệ độc giả mới và có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển ngôn ngữ tiếng Việt.

Phạm Nguyễn 

 

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN