Tấm lòng doanh nhân với cách mạng

10/10/2014 - 09:52

Trong khối đại đoàn kết dân tộc đó, phải kể đến sự đóng góp của giới doanh nhân, những người mang nặng lòng yêu nước, hết lòng vì lý tưởng độc lập nhất là trong lĩnh vực tài chính giữa lúc chính quyền cách mạng đang đứng trước những khó khăn to lớn.     
Tầng lớp thương nhân Việt Nam trừ một bộ phận bám theo chính sách và những thủ đoạn  bóc lột thuộc địa của chính quyền thực dân để làm giàu,  làm tay sai cho giặc còn đại đa số là những người xuất thân từ tầng lớp nghèo  khổ, có ý thức dân tộc, mong muốn nước nhà độc lập, tự chủ.
Họ muốn làm giàu cho mình và cho đất nước, không muốn hợp tác với ngoại bang để mình giàu có nhưng Tổ quốc và đồng bào khổ cực, dốt nát. Ngay từ đầu thế kỷ XX, đã có nhiều tấm gương như: Bạch Thái Bưởi, Phạm Công Trứ và nhiều người khác muốn phát triển canh nông, nông nghiệp, nghề thủ công để từ đó xây dựng một nền kinh tế Việt Nam tự chủ, lớn mạnh có thể đủ sức cạnh tranh với các cơ sở kinh tế của nhà nước bảo hộ.
Vào đầu những năm 40 của thế kỷ trước, thực dân Pháp ra sức vơ vét thuộc địa để phục vụ đại chiến thế giới II, phát xít Nhật trước khi bại trận đã chiếm  Đông Dương từ tay thực dân Pháp, lấy Đông Dương làm hậu cứ cho mưu đồ bá chủ châu Á của chúng. Phát xít Nhật bắt dân ta nhổ lúa trồng đay, vơ vét mọi tài nguyên như than đá, khoáng sản, cao su, lúa gạo về chính quốc.


Quang cảnh giới tư sản Hà Nội quyên góp ủng hộ Cách mạng trong “Tuần lễ vàng”

Về kinh tế, chúng áp dụng chính sách cấm xuất nhập khẩu, bóp nghẹt giao thương buôn bán, nhất là hoạt động thương mại không có lợi cho chúng của các nhà doanh thương có ý thức dân tộc. Hơn hai triệu nông dân chết đói, nhiều nhà doanh nghiệp phá sản, hoạt động thương mại đình đồn.
Trước tình cảnh bị áp bức, bóc lột, một cổ hai tròng, nhiều doanh nhân nhất là ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Sài Gòn đã đứng lên tham gia phong trào Việt Minh tổng khởi nghĩa cướp chính quyền, thành lập Chính phủ cách mạng. Trong Quốc hội khóa I và Chính phủ kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có nhiều đại diện của giới doanh nhân, có sức tập hợp rộng lớn các tầng lớp nhân dân. Nhưng trong năm đầu chính quyền cách mạng và trong kháng chiến  trường kỳ gian khổ đánh thực dân Pháp, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn. Sau khi giành chính quyền, nhu cầu tài chính của ta rất lớn từ trả các khoản nợ ngắn hạn 564 triệu đồng, cứu đói cho dân, mua sắm vũ khí quân trang quân dụng, đuổi 20 vạn quân Tàu Tưởng về nước đến rất nhiều việc khác khi ngân khố quốc gia chỉ còn 1,2 triệu tiền Đông Dương trong đó gần một nửa là tiền nát chờ thu đổi. Trước tình trạng nguy ngập đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh có sáng kiến lập Quỹ Độc lập. Tuần lễ vàng tiếp nhận mọi hiện vật, tiền bạc của đồng bào. Chỉ trong một thời gian ngắn, giới doanh nhân và đồng bào cả nước đã đóng góp 20 triệu đồng và 370 kg vàng cùng nhiều tài sản có giá trị khác.
Tiếp đó là những ngày kháng chiến gian khổ, nhiều doanh nhân đã rời bỏ thành phố, rút lên Việt Bắc, vào bưng biền và các chiến khu tham gia kháng chiến, đóng góp to lớn cho thắng lợi. Trong số hàng vạn người đó, có thể kể đến hai nhân vật tiêu biểu là doanh nhân Trịnh Văn Bô và doanh nhân Đỗ Đình Thiện.
Doanh nhân Trịnh Văn Bô sinh năm 1914 trong một gia đình có truyền thống buôn bán. Ông kết hôn với bà Hoàng Thị Ngọc Hồ, con một nhà trí thức Nho học. Khi cách mạng đến, ông Bô đã giác ngộ và tham gia Việt Minh từ năm 1944. Sau khi cách mạng thành công, hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, ông bà đã hiến cho chính quyền 5.147 lượng vàng, tương đương với 2 triệu tiền Đông Dương, gấp đôi toàn bộ tiền có trong Ngân khố quốc gia  lúc đó. Ông và bà còn là cốt cán trong các sự kiện Tuần lễ vàng và Quỹ độc lập, vận động hàng trăm doanh nhân khác đóng góp cho cách mạng. Ngôi nhà 48-Hàng Ngang của ông bà Trịnh Văn Bô đã thành nơi ở, nơi họp hành, tiếp khách của Chủ tịch Hồ Chí minh và là nơi Người đã viết bản Tuyên ngôn độc lập.


Cụ bà Trịnh Văn Bô tiếp Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Công Nghiệp tại nhà riêng

Trong kháng chiến, bà Hồ trồng rau, nuôi lợn, bán nước chè nuôi sống gia đình để ông Bô tham gia kháng chiến. Hòa bình lập lại trên miền Bắc, Trung ương Đảng và Chính phủ về lại Thủ đô, ông Bô làm phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Hà Nội đến khi nghỉ hưu, các con của ông bà đều trưởng thành và đều là cán bộ, kỹ sư.
Cuộc đời của ông Đỗ Đình Thiện lại có dáng vẻ khác. Ông sinh năm Giáp Thìn (1904) tại Hà Nội, năm 1927- 1932 ông du học tại trường Toulouse (Pháp) và trong thời gian này, ông gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Ông bị bắt và bị trục xuất về Việt Nam vì hoạt động cách mạng. Một thời gian sau, ông kết hôn cùng bà Trịnh Thị Điều, người Hà Nội, hoạt động cách mạng ở Hải Phòng chuyên nhận và cất giữ vũ khí và tài liệu, làm giấy tờ giả cho cán bộ ta. Bà Điều đã từng bị bắt, bị tra tấn dã man và được thả ra năm 1931. Ngay khi ra tù, bà tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực hậu cần, tiếp tế của Đảng.
Bị kiểm soát gắt gao, hai vợ chồng ông Thiện chuyển sang làm kinh doanh, phụ trách kinh tế cho Đảng.  Ông bà phất lên nhờ nghề buôn bán tơ, mở cửa hàng tơ ở phố Hàng Gai, mua nhà máy dệt Gia Lâm, mua nhà in Tô panh (Toupin) ở Hà Nội và đồn điền Chi Nê ở Hòa Bình. Đồn Điền Chi Nê do chủ người Pháp khởi tạo và quản lý suốt 40 năm, rộng khoảng 2.000 mẫu Bắc Bộ, chăn nuôi hàng ngàn gia súc lớn, có giá 1 triệu đồng.
Ông Thiện mua đồn điền này với dự định khi có chiến tranh sẽ chuyển nhà máy dệt về đây, kinh doanh nuôi kháng chiến và làm cơ sở cho cán bộ cách mạng qua lại. Kinh doanh phát đạt nhưng ông bà Đỗ Đình Thiện không quên nhiệm vụ bảo đảm tài chính cho Đảng. Căn nhà 54- Hàng Gai trở thành cơ sở cho những lãnh tụ cao cấp của Đảng ở Hà Nội. Trước cách mạng, ông Thiện đã từng đưa 3 vạn đồng cho Đảng, trong lúc quỹ Đảng lúc ấy chỉ còn 24 đồng. Một lần khác, ông bà đã chuyển 10 vạn đồng cho quỹ Đảng.
Trong Tuần lễ vàng và Quỹ độc lập, ông bà đã hiến 10 vạn đồng và 100 cây vàng cho Nhà nước. Là người phụ trách quỹ Trung ương bí mật, trong một cuộc bán đấu giá tranh do Chính phủ tổ chức, ông đã trả 1 triệu đồng mua bức tranh về Hồ Chủ tịch và biếu nó cho Ủy ban kháng chiến hành chính Hà Nội.
Kháng chiến ngày một đến gần, ông bà Đỗ Đình Thiện đã dành nhà in Tô panh để in tiền cho Chính phủ và tờ bạc đầu tiên được in ra là đồng tiền trâu xanh nổi tiếng. Tháng 3/1946, nhà in sơ tán lên đồn điền Chi Nê. Tại đây nhờ sự giúp đỡ của gia đình ông Đỗ Đình Thiện, nhà máy khẩn trương đi vào hoạt động ổn định, kịp thời phục vụ công cuộc kháng chiến. Đầu năm 1947, phát hiện cơ sở in tiền, thực dân Pháp cho  8 máy bay oanh tạc ác liệt vào đồn điền, gây thiệt hại lớn. Sau cuộc đánh phá đó, gia đình ông cùng nhà máy lên hẳn chiến khu Việt Bắc, nhà in Tô panh được bàn giao cho Ban Kinh Tài của Đảng quản lý.
Từ đó ông bà Thiện dốc hết sức lực, trí tuệ vì sự nghiệp kháng chiến. Những đóng góp to lớn của ông bà như những viên gạch đầu tiên đặt nền móng trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng luôn được Đảng và Nhà nước ta ghi nhớ. Năn 1972, đám tang của một ông già thường dân, không biên chế, không chức vụ, không lương (ông tình nguyện không nhận lương) nhưng được tất cả các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đến viếng và tiễn đưa khiến cả Hà Nội xôn xao, vừa ngạc nhiên vừa kính trọng.
Những tấm gương xả thân vì nước, vì dân của giới doanh nhân trong cuộc kháng chiến giành lại đất nước và những cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập, tự chủ  như ông bà Trịnh Văn Bô, Đỗ Đình Thiện như vậy còn rất nhiều. Ngày nay, thế hệ các doanh nhân trẻ tràn đầy tinh thần dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, được trang bị văn hóa, kiến thức hiện đại, được sự giúp đỡ của Nhà nước, sự ủng hộ của toàn dân đang kế tục thế hệ cha anh đưa đất nước thoát nghèo, sánh vai cùng “cường quốc năm châu” như Bác Hồ mong đợi.
Nhiều người Việt Nam đã tổng kết, đối với một đất nước, có hai nỗi nhục, đó là bị đô hộ, mất quyền độc lập, tự chủ và nghèo khổ, dốt nát. Để giành lại và giữ vững sự thống nhất và quyền độc lập tự chủ, hàng triệu con người Việt Nam đã hy sinh  xương máu, sức lực, trí tuệ và của cải. Nỗi nhục thứ nhất đã được rửa, kẻ thù lần lượt thất bại, đất nước đã thống nhất, non sông liền một giải.  Để rửa nỗi nhục thứ 2 từng đeo bám dân tộc ta hàng ngàn năm, cần vươn lên thoát đói nghèo, bình đẳng với thế giới.
Để làm tròn trách nhiệm đó, giới doanh nhân phải có được sự thông minh, ý chí phấn đấu làm giàu cho mình và cho đất nước, không để thua chị kém em. Để thực hiện điều đó, chưa bao giờ trong lịch sử, chúng ta lại có nhiều thuận lợi như bây giờ. Đó là sự chân thành, hết lòng tạo điều kiện cho các doanh nhân của Nhà nước. Đó là sự hội nhập ngày càng sâu với thế giới, mở ra môi trường vô cùng rộng lớn. Đó là sự phát triển như vũ bão của khoa học- kỹ thuật tạo điều kiện cho mọi ý đồ sáng tạo. Đó là sự tin cậy và ủng hộ nhiệt tình của người Việt Nam cả trong nước và nước ngoài.
Trên nền thuận lợi đó, tiếp nối thế hệ cha anh, được uy tín của cách mạng và kháng chiến hỗ trợ và soi sáng, nhất định chúng ta sẽ tới đích trong một tương lai được xác định.

 Phó GS-TS Vũ Duy Thông
 

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN