Triển khai Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Công chứng

06/01/2015 - 01:57

Luật HN&GĐ năm 2014 bao gồm 9 chương, 133 điều; Luật Công chứng có 10 chương, 81 điều. So với Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ sửa đổi và bổ sung năm 2014 có nhiều điểm mới như: Áp dụng tập quán trong hôn nhân và gia đình. Theo đó, Điều 7 quy định: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 và không vi phạm điều cấm của Luật này được áp dụng”. Nâng độ tuổi kết hôn quy định tại điều 8, theo đó độ tuổi của nữ thành đủ 18 tuổi thay vì vừa bước qua tuổi 18 như quy định tại Luật HN&GĐ năm 2000. Luật mới quy định tuổi kết hôn đối với nữ là từ đủ 18 tuổi trở lên đối nữ và với nam là từ đủ 20 tuổi trở lên (Điều 8). Không cấm kết hôn đồng giới. Về hôn nhân đồng giới, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cấm kết hôn đồng giới, và vì cấm nên đi kèm sẽ có chế tài, xử phạt. Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2014 bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng quy định cụ thể “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (Khoản 2 Điều 8). Như vậy, những người đồng giới tính vẫn có thể kết hôn, tuy nhiên sẽ không được pháp luật bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra. Đây là sự nhìn nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính của Nhà nước ta trong tình hình xã hội hiện nay. Ngoài ra Luật HN&GĐ năm 2014 còn có một số điểm mới khác như cho phép mang thai hộ, chế độ tài sản của vợ chồng…đã giải quyết được những yêu cầu khách quan của đời sống HN&GĐ, vừa thể hiện được quan điểm mới của Đảng về tôn trọng, đảm bảo thực hiện quyền con người, quyền công dân trong mối quan hệ dân sự nói chung và lĩnh vực HN&GĐ nói riêng.
Các đại biểu tham dự Hội nghị đã được nghe phổ biến, giới thiệu những điểm mới và nội dung của Luật Công chứng 2014. Luật Công chứng có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, có ý nghĩa quan trọng góp phần tháo gỡ những khó khăn, hạn chế, bất cập về thể chế, nâng cao chất lượng của hoạt động công chứng, công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động công chứng, đáp ứng được chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa hoạt động công chứng phù hợp với công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Theo đó, phạm vi công chứng theo Luật Công chứng 2014 được mở rộng hơn so với Luật Công chứng 2006, bên cạnh nhiệm vụ công chứng bản dịch, công chứng viên cũng được giao nhiệm vụ chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản.Về tổ chức hành nghề công chứng, Luật tiếp tục ghi nhận 2 loại hình tổ chức là Phòng công chứng và Văn phòng công chứng. Tuy nhiên Văn phòng công chứng chỉ được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh, không có thành viên góp vốn. Tên gọi của Văn phòng công chứng phải bao gồm cụm từ “Văn phòng công chứng” kèm theo họ tên của Trưởng Văn phòng hoặc họ tên của một công chứng viên hợp danh theo thỏa thuận của các công chứng viên hợp danh…Đồng thời, Luật cũng có nhiều quy định chặt chẽ hơn, mới hơn về tiêu chuẩn công chứng viên; thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch; cơ sở dữ liệu công chứng, lưu trữ hồ sơ công chứng; phí công chứng, thù lao công chứng và các chi phí khác; quản lý nhà nước về công chứng, việc thi hành Luật và các điều khoản chuyển tiếp...

Nam Phong
 

Chia sẻ bài viết

BÌNH LUẬN